Vớ sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật hiện đại, máy vi tính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống của nhân loại, từ cơ quan công sở đến các gia đình, từ người lớn đến trẻ em, thanh thiếu niên. Trên xã hội, ngày càng có nhiều bạn trẻ có kỹ năng sử dụng máy tính và am hiểu về chúng. Tuy nhiên chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới được sinh ra ở đâu? Bạn có biết ai phát mình ra nó không?
Chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới thực sự có thể thao tác được sinh ra tại đại học Havert vào năm 1944. Người đã chế tạo ra chiếc máy này là giáo sư Anbe thuộc ĐH Havert, và một nhóm ký sư của công ty máy quốc tề. Chiếc máy này được gọi là "Máy vi tính Havert số 1", nó có khả năng tính hai phép cộng với 23 chữ số trong 3/10 giây, làm phép nhân trong 4 giây. Nhưng bộ phận chính của chiếc máy này là những linh kiện cơ, không phải linh kiện điện tử. Cho đến năm 1946, chiếc máy vi tính điện tử thế hệ thứ nhất mới được ra đời. Từ đó đến nay nó đã phát triển đến thế hệ thứ năm, (thế hệ bóng điện tử, bóng bán dẫn, mạch IC,...).
Thursday, July 31, 2014
Tại sao tàu có thể nổi trên mặt nước?
Chúng ta đều biết rằng bất luận chất lỏng nào thì đều có một sức nâng nhất định, nước cũng vậy. Khi thẻ một vật xuống nước, nếu trọng lực của vật lớn hơn sức nâng của nước thì nó sẽ bị chìm trong nước, nếu trọng lực của vật ngang bằng với lực nâng thì nó sẽ bị ngập trong nước, tức không nổi lên trên mặt nước cũng không chìm xuống mặt nước, còn nếu trọng lực của vật nhỏ hơn lực nâng thì nó sẽ nổi lên mặt nước.
Sở dĩ tàu có thể nổi trên mặt nước là bởi nó nhìn thì có vẻ nặng nhưng trọng lượng thực tể của nó lại không nặng như vẻ bề ngoài, thân tàu đều rỗng. Hơn nữa mật độ nước biển khá lớn, lực nâng cũng lớn hơn trọng lượng của thuyền, cho nên mới có thể khiến thuyền nổi trên mặt nước. Tuabin quay kéo theo chân vịt chuyển động trong nước sinh ra lực đẩy, đẩy thuyền tiến về phía trước.
Ngoài ra, trên thuyền còn có rất nhiều lối đi và các phòng, trong không gian này chứa đầy không khí. Một khi tàu xảy ra sự cố ví như khoang thuyền bị ngập nước thì thân tàu sẽ bị chìm xuống nước do trọng lượng tăng lên quá nhiều. Điều này cũng giống như cành cây khô trôi trên mặt nước, khi nước thấm vào qua những lỗ rò nhỏ xung quanh cành cây nó cũng từ từ chìm xuống.
Sở dĩ tàu có thể nổi trên mặt nước là bởi nó nhìn thì có vẻ nặng nhưng trọng lượng thực tể của nó lại không nặng như vẻ bề ngoài, thân tàu đều rỗng. Hơn nữa mật độ nước biển khá lớn, lực nâng cũng lớn hơn trọng lượng của thuyền, cho nên mới có thể khiến thuyền nổi trên mặt nước. Tuabin quay kéo theo chân vịt chuyển động trong nước sinh ra lực đẩy, đẩy thuyền tiến về phía trước.
Ngoài ra, trên thuyền còn có rất nhiều lối đi và các phòng, trong không gian này chứa đầy không khí. Một khi tàu xảy ra sự cố ví như khoang thuyền bị ngập nước thì thân tàu sẽ bị chìm xuống nước do trọng lượng tăng lên quá nhiều. Điều này cũng giống như cành cây khô trôi trên mặt nước, khi nước thấm vào qua những lỗ rò nhỏ xung quanh cành cây nó cũng từ từ chìm xuống.
Tại sao phải lắp đặt đường ống dẫn dầu dưới biển?
Sở dĩ phải lắp đặt đường ống dẫn dầu dưới đáy biển chính để vận chuyển dầu từ một nơi này tới một nơi khác, chỉ có điều đường ống được lắp đặt dưới đáy biển. Bởi vì những nước không sản suất dầu mỏ vẫn phải mua dầu mỏ từ những nước sản xuất dầu. Nếu như cự li vận chuyển không quá xa thì có thể lợi dụng hệ thống đường ống dưới đáy biển để vận chuyển, trực tiếp đưa dầu tới nước thiếu dầu. Nhưng nếu khoảng cách giữa hai nước quá xa thì bắt buộc phải dùng các tàu chở dầu loại lớn để chở. Có nước thậm chó còn đem dầu dự trữ sãn trong những dụng cụ trữ dầu lớn dưới đáy biển, đợi tàu chở dầu đi qua thì lấy ra chở đi.
Những ống dẫn dầu lớn dưới đáy biển đều vô cùng vững chắc, lượng dầu trữ ở bên trong cũng không nhiều lắm, kho cần thiết có thể lấy ra bất cứ lúc nào, đồng thời có thể sử dụng xà lan đáy bằng để vận chuyển. Có điều ống dẫn dàu phải được chôn dưới đáy biển nhằm tránh bị lưới đành cá câu phải gây hư hại.
Những ống dẫn dầu lớn dưới đáy biển đều vô cùng vững chắc, lượng dầu trữ ở bên trong cũng không nhiều lắm, kho cần thiết có thể lấy ra bất cứ lúc nào, đồng thời có thể sử dụng xà lan đáy bằng để vận chuyển. Có điều ống dẫn dàu phải được chôn dưới đáy biển nhằm tránh bị lưới đành cá câu phải gây hư hại.
Wednesday, July 30, 2014
Tàu ngầm có thể ở dưới nước bao lâu?
Tùy theo quy mô, công dụng và thiết bị của tàu ngầm khác nhau mà thời gian ở dưới nước của chúng đương nhiên cũng khác nhau.
Có một số tàu ngầm thăm dò loại nhỏ do thể tích quá bé, nhân viên trên tàu không thể đứng thẳng lên được, bởi vậy đến ngay cả việc tự do đi lại cũng rất bất tiện, cho nên tàu ngầm này không thể ở lâu dưới nước, cao nhất chỉ có thể ở lại 10 tiếng đồng hồ. Tuy vậy, nhân viên trên tàu vẫn dự trữ trong tàu lượng không khí đủ dùng cho vài ngày, để sử dụng đề phòng khi phát sinh trục trặc khiến tàu không thể nổi lên mặt nước được.
Trái lại, tàu ngầm loại lớn có thể ở dưới nước từ hai tháng đến ba tháng, thậm chí có thể đi dưới nước vòng quanh thế giới trong vài tuần mà giữa đường cũng không phải nổi lên mặt nước. Như vật, trên tàu cần chuẩn bị đầy đủ lương thực, đồng thời thiết bị lọc khí, thiết bị lọc nước cũng phải có khả năng cung cấp đầy đủ dưỡng khí và nước ngọt.
Có một số tàu ngầm thăm dò loại nhỏ do thể tích quá bé, nhân viên trên tàu không thể đứng thẳng lên được, bởi vậy đến ngay cả việc tự do đi lại cũng rất bất tiện, cho nên tàu ngầm này không thể ở lâu dưới nước, cao nhất chỉ có thể ở lại 10 tiếng đồng hồ. Tuy vậy, nhân viên trên tàu vẫn dự trữ trong tàu lượng không khí đủ dùng cho vài ngày, để sử dụng đề phòng khi phát sinh trục trặc khiến tàu không thể nổi lên mặt nước được.
Trái lại, tàu ngầm loại lớn có thể ở dưới nước từ hai tháng đến ba tháng, thậm chí có thể đi dưới nước vòng quanh thế giới trong vài tuần mà giữa đường cũng không phải nổi lên mặt nước. Như vật, trên tàu cần chuẩn bị đầy đủ lương thực, đồng thời thiết bị lọc khí, thiết bị lọc nước cũng phải có khả năng cung cấp đầy đủ dưỡng khí và nước ngọt.
Tàu ngầm hoạt động như thế nào?
Tàu ngầm là tàu có thể lặn xuống nước. bên trong tàu ngầm còn có rất nhiều khoang chứa nước lớn, khi trong khoang chứa đầy không khí tàu ngầm liền nổi lên giống như cái phao, khi tàu nhầm muốn lặn xuống nước thì lại đổ nước biển vào trong các khoang chứa, như thế tàu ngầm sẽ chìm xuống lòng nước, còn nếu muốn từ dưới nước nổi lên trên mặt nước thì chỉ cần dùng khí nén cao áp bơm nước ra ngoài là đã có thể nổi lên rồi. Tàu ngầm được đóng kín để đề phòng lúc ở dưới nước bị nước biển tràn vào.
Còn có một loại tàu ngầm thăm dò khác phục vụ cho nghiên cứu, bề ngoài hơi giống hình cái đĩa, phương thức chìm nổi của loại tàu này không giống những tàu ngầm thông thường. Nó thường neo lại ở khu vực nước có mục tiêu nghiên cứu, nổi chìm nhờ vào một số quả cầu kim loại, khi mắc những quả cầu kim loại vào sẽ khiến tàu trở nên quá nặng và chìm xuống, đến khi việc thăm dò đã hoàn tất, cần nổi lên mặt nước, nhân viên điều khiển chỉ phải vứt bỏ những quả cầu kim lại đó đi là đã có thể nổi lên.
Còn có một loại tàu ngầm thăm dò khác phục vụ cho nghiên cứu, bề ngoài hơi giống hình cái đĩa, phương thức chìm nổi của loại tàu này không giống những tàu ngầm thông thường. Nó thường neo lại ở khu vực nước có mục tiêu nghiên cứu, nổi chìm nhờ vào một số quả cầu kim loại, khi mắc những quả cầu kim loại vào sẽ khiến tàu trở nên quá nặng và chìm xuống, đến khi việc thăm dò đã hoàn tất, cần nổi lên mặt nước, nhân viên điều khiển chỉ phải vứt bỏ những quả cầu kim lại đó đi là đã có thể nổi lên.
Kênh đào là gì?
Kênh đào là một con sông được đào bởi sức người tại một nơi vốn không có dòng chảy, có thể để tàu thuyền qua lại. Độ sâu của kênh đào phải đủ để khiến cho tàu thuyền xuôi ngược dễ dàng không trở ngại. Khi đào kênh thường gặp phải những địa hình cao thấp không bằng phẳng, thế là dòng chảy của kênh đào cũng phải theo đó mà lên cao hay xuống thấp. Bởi vậy kênh đào cũng tùy theo độ cao thấp của địa hình mà phân thành nhiều đoạn, tại giữa mỗi hai đoạn kênh đều có xây dựng một đập chắn thuyền, đập chắn thuyền phân tách dòng sông thành những bậc thềm cao thấp khác nhau. Trước khi tàu thuyền đi vào những đoạn kênh khác nhau ấy phải đóng đập chắn ngay sau khi tàu thuyền vào kênh đào, liền đó đổ thêm nước hoặc rút bớt nước trong lòng kênh khiến mức nước tăng lên hay giảm xuống bằng với đoạn kênh tiếp theo, sau đấy lại mở đập chắn đoạn kênh tiếp theo để cho tàu thuyền tiếp tục tiến lên phái trước. Đây chính là tác dụng của đập chắn thuyền, một thiết kế quan trọng của kênh đào.
Kênh đào thường nối liền hai cảng quan trọng hoặc nối liền các khu vực trong thành phố. Kênh đào lớn còn có thể nối liền hai đại dương với nhau, ví dụ như kênh đào Xuyê nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hà, kênh đào Panama nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Kênh đào thường nối liền hai cảng quan trọng hoặc nối liền các khu vực trong thành phố. Kênh đào lớn còn có thể nối liền hai đại dương với nhau, ví dụ như kênh đào Xuyê nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hà, kênh đào Panama nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Động cơ hơi nước vận hành như thế nào?
Động cơ hơi nước sở dĩ có thể vận hành được là do dựa vào sức mạnh của hơi nước làm máy hoạt động. Chúng ta lúc thường ngày đều đã từng đun nước sôi, khi nước trong ấm sôi bồng lên, chúng ta liền phát hiện thấy có hơi nước bay ra. Sức mạnh của những hơi nước này là rất lớn, có thể đẩy bật nắp ấm. Nếu như thay đổi một chút, dùng nồi thật to để đun nước, thì sức mạnh của hơi nước sẽ càng lớn. Khi nước bắt đầu bốc hơi, nếu chúng ta dẫn nó vào trong một lỗ nhỏ, ví dụ như một đường ống, rồi lại để nó bốc hơi lên thì xung lực của nó sẽ càng mạnh mẽ, đủ để làm cho máy móc vận hành.
Động cơ hơi nước chính là lợi dụng nguyên lí này, cho đến ngày nay, đầu máy hơi nước và máy điện báo vẫn được vận hành bằng hơi nước.
Động cơ hơi nước chính là lợi dụng nguyên lí này, cho đến ngày nay, đầu máy hơi nước và máy điện báo vẫn được vận hành bằng hơi nước.
Vì sao tàu hỏa cứ nhất định phải chạy trên đường ray?
Một đoàn tàu hỏa có rất nhiều toa xe, chở theo rất nhiều hành khách và hàng hóa nặng, giống như con rồng lớn chạy như bay trên đường ray. Đường ray có hai tác dụng: Một là nâng đỡ trọng lượng của đoàn tàu, phân tán lực xuống nền đất thông qua những thanh tà vẹt và đá răm trên đường ray, hai là định hướng dẫn đường cho đoàn tàu tiến lên phía trước.
Nếu không để tàu hỏa chạy trên đường ray, cứ cho nó chạy trên đường cái như những xe cộ khác, mặt đường sẽ bị đè nát bởi không chịu được áp lực cực lớn của bánh xe tàu hỏa. Ngoài ra, do tốc độ của tàu hỏa quá nhanh đồng thời cũng khó mà điều chỉnh được phương hướng để tàu tiến lên phía trước, cho nên tàu hỏa nhất định phải chạy trên đường ray.
Nếu không để tàu hỏa chạy trên đường ray, cứ cho nó chạy trên đường cái như những xe cộ khác, mặt đường sẽ bị đè nát bởi không chịu được áp lực cực lớn của bánh xe tàu hỏa. Ngoài ra, do tốc độ của tàu hỏa quá nhanh đồng thời cũng khó mà điều chỉnh được phương hướng để tàu tiến lên phía trước, cho nên tàu hỏa nhất định phải chạy trên đường ray.
Tuesday, July 29, 2014
Tại sao phải xây dựng cầu vượt?
Cầu vượt được xây dựng chủ yếu dùng để giải quyết vấn đề tắc nghẽn giao thông. Thông thường cầu vượt được xây dựng ở nơi có đường giao cắt, dòng xe ở các hướng khác nhau có thể vượt qua nhau ở các tầng đường có độ cao khác nhau, không gây nhiễu cho nhau, lại càng không thể phát sinh tai nạn đâm thẳng vào nhau.
Nếu dùng đèn tín hiệu giao thông điều khiển ở các nút giao thông thì phải đợi sau khi xe ở một hướng đi qua thì mới thông xe cho tuyến khác. Như vậ thì lượng xe lưu thông rất ít, do vậy việc ách tắc giao thông là chuyện đương nhiên. Cầu vượt là phương pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề này. Cầu vượt thông thường gồm bốn phần cấu tạo thành: Cầu vượt tuyến, đường vòng, đường dẫn cầu vượt tuyến và đường dốc dưới cầu. Cầu vượt tuyến là phần kết cấu chủ yếu, một đường vượt ở trên cầu, một con đường khác gặp nhau ở phía dưới cầu. Đường vòng là con đường nối giữa hai phần đường gặp nhau ở trên và dưới, chuyên dùng để cho các xe quay đầu trái phải vào con đường gặp nhau. Cầu vượt tuyến rất cao, đường dẫn cầu vượt tuyến là con đường nối con đường cũ và đầu cầu. Đường dốc dưới cầu là con đường nối đường xuống cầu và mặt đường cũ.
Kiểu dáng của cầu tuyến rất đa dạng, có hình quả trám, hình cỏ đinh lăng, hình tròn, hình định hướng và hình bán định hướng. Sử dụng kiểu dáng nào phải căn cứ vào địa hình và tình hình cụ thể. Cầu vượt tuyến đem lại cho con người rất nhiều tiện lợi.
Nếu dùng đèn tín hiệu giao thông điều khiển ở các nút giao thông thì phải đợi sau khi xe ở một hướng đi qua thì mới thông xe cho tuyến khác. Như vậ thì lượng xe lưu thông rất ít, do vậy việc ách tắc giao thông là chuyện đương nhiên. Cầu vượt là phương pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề này. Cầu vượt thông thường gồm bốn phần cấu tạo thành: Cầu vượt tuyến, đường vòng, đường dẫn cầu vượt tuyến và đường dốc dưới cầu. Cầu vượt tuyến là phần kết cấu chủ yếu, một đường vượt ở trên cầu, một con đường khác gặp nhau ở phía dưới cầu. Đường vòng là con đường nối giữa hai phần đường gặp nhau ở trên và dưới, chuyên dùng để cho các xe quay đầu trái phải vào con đường gặp nhau. Cầu vượt tuyến rất cao, đường dẫn cầu vượt tuyến là con đường nối con đường cũ và đầu cầu. Đường dốc dưới cầu là con đường nối đường xuống cầu và mặt đường cũ.
Kiểu dáng của cầu tuyến rất đa dạng, có hình quả trám, hình cỏ đinh lăng, hình tròn, hình định hướng và hình bán định hướng. Sử dụng kiểu dáng nào phải căn cứ vào địa hình và tình hình cụ thể. Cầu vượt tuyến đem lại cho con người rất nhiều tiện lợi.
Đường ngựa vằn có từ đâu?
"Đường ngựa vằn" chính là vệt trắng nhìn rất rõ vẽ ngang mặt đường dành cho người đi bộ, nhìn giống như những sọc vằn trắng đen trên thân ngựa vằn, do vậy nó được gọi là "Đường ngựa vằn" . Ý nghĩa của nó là nhắc nhở mọi người: "Xin hãy đi vào đường này", và cũng để cảnh cáo các lái xe chạy nhanh: "Xin hãy giảm tốc độ, chạy chậm, nhường đường cho người đi bộ".
"Đường ngựa vằn" đã có từ rất lâu rồi. Theo những ghi chép của các sách cổ thì vào thời La Mã cổ đại, người, ngựa và xe từng đi chung với nhau, nên chuyện xảy ra tai nạn là chuyện thường xuyên. Thế là nhân viên quản lý giao thông liền nghĩ ra một cách là làm cao đường cho người đi bộ để phân cách giữa người và xe, sau đó ở những chỗ gần đầu đường lại lát những viên đá lồi lên mặt đường để làm dấu hiệu chỉ ra rằng đây là đường cho người đi bộ qua đường. Người đi bộ có thể đi trên những viên đá để sang đường. Đến những năm 50 của thế kỷ 20, Luân Đôn cũng theo phương pháp của thời La Mã cổ đại, thí nghiệm nhiều lần vẽ những đường ngựa vằn. Đồng thời ở những đầu đường đông đúc lại vẽ hai đường ngựa vằn, có đèn tín hiệu: Đỏ dừng, xanh đi dành cho người đi bộ. Sau đó, phương pháp này được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng.
"Đường ngựa vằn" đã có từ rất lâu rồi. Theo những ghi chép của các sách cổ thì vào thời La Mã cổ đại, người, ngựa và xe từng đi chung với nhau, nên chuyện xảy ra tai nạn là chuyện thường xuyên. Thế là nhân viên quản lý giao thông liền nghĩ ra một cách là làm cao đường cho người đi bộ để phân cách giữa người và xe, sau đó ở những chỗ gần đầu đường lại lát những viên đá lồi lên mặt đường để làm dấu hiệu chỉ ra rằng đây là đường cho người đi bộ qua đường. Người đi bộ có thể đi trên những viên đá để sang đường. Đến những năm 50 của thế kỷ 20, Luân Đôn cũng theo phương pháp của thời La Mã cổ đại, thí nghiệm nhiều lần vẽ những đường ngựa vằn. Đồng thời ở những đầu đường đông đúc lại vẽ hai đường ngựa vằn, có đèn tín hiệu: Đỏ dừng, xanh đi dành cho người đi bộ. Sau đó, phương pháp này được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng.
Đường tàu điện ngầm được xây dựng sớm nhất ở đâu?
Ngày 10/1/1863, ở Luân Đôn nước Anh đã xây dựng tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới, tổng cộng dài thành 88,5 km, gồm 61 nhà ga, là tuyến đường tàu điện ngầm dài nhất trên thế giới.
Trong thực tế, người đề xuất ra ý kiến xây dựng tàu điện ngầm đầu tiên không phải là chuyên gia trong ngành đường sắt mà là một luật sư. Ông là Charles Pearson, một người Anh nối tiếng có tài biện hộ. Trong thời kỳ mà ông sống xe cộ ở London rất nhiều, giao thông rất đông đúc, thường xảy ra tai nạn. Ông dự cảm rằng tình trạng này sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thành phố phát triển. Rất may mắn là ông lại chú ý đến đặc điểm của đường sắt là có tốc độ cao, khối lượng vận chuyển lớn. Thế là ông liền đưa ra suy nghĩ của mình là xây dựng đường sắt ở dưới đường phố của thành phố với nhà cầm quyền London, sau đó luận chứng đã được Chính phủ Anh chấp nhận.
Trong thực tế, người đề xuất ra ý kiến xây dựng tàu điện ngầm đầu tiên không phải là chuyên gia trong ngành đường sắt mà là một luật sư. Ông là Charles Pearson, một người Anh nối tiếng có tài biện hộ. Trong thời kỳ mà ông sống xe cộ ở London rất nhiều, giao thông rất đông đúc, thường xảy ra tai nạn. Ông dự cảm rằng tình trạng này sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thành phố phát triển. Rất may mắn là ông lại chú ý đến đặc điểm của đường sắt là có tốc độ cao, khối lượng vận chuyển lớn. Thế là ông liền đưa ra suy nghĩ của mình là xây dựng đường sắt ở dưới đường phố của thành phố với nhà cầm quyền London, sau đó luận chứng đã được Chính phủ Anh chấp nhận.
Tại sao trên đường phải rải nhựa đường?
Nhựa đường là tên gọi khác của hắc ín, thuộc loại vật liệu ngưng tụ kết dính. Đặc điểm nổi bật nhất của nó chính là độ dính, tính chống nước và tính chống chảy. Những con đường được phủ nhựa đường ngay ngắn, phẳng phiu, tiên cho người và xe qua lại.
Hình thái con đường nguên thủy nhất chính là đường bằng đất bùn. Đường đất bùn là do con người đi lại nhiều giẫm đi giẫm lại thành đường, giống như những con đường hẹp ngoằn ngoèo hiện nay ở nông thôn, chẳng những gồ ghề không bằng phẳng, mà còn bùi đầy trời, mưa xong thì bùn đất bắn lên đỉnh đầu. Con đường đất bùn không những đi lại khó khăn, mà còn tạo nên những hố bùn nếu xe cộ sa xuống khó có thể lên được, gây nên rất nhiều điều bất tiện.
Để thay đổi tình trạng lạc hậu này, khắc phục việc đi lại khó khăn, thế là con người liên nghĩ ra mọi cách để làm mặt đường tốt hơn, Sau khi làm đường đất, người ta dùng những viên đá hoặc đá tảng lát lên mặt đường.
Qua nhiều lần nghiên cứu liên tục, cuối cùng con người đã tìm ra vật liệu lý tưởng để phủ lên mặt đường - Nhựa đường (Hắc ín)
Thế nào là đường cao tốc?
Đường cao tốc khác với đường bình thường, hoàn toàn ngược lại với đường bình thường bị hạn chế tốc độ khi lái xe. Thông thường, tốc độ lái xe trên đường bình thường bị hạn chế ở mức 40 - 60 km/h, còn đường cao tốc yêu cầu tốc độ ô tô ít nhất phải là 100 - 120 km/h. Do vậy đi trên đường cao tốc có thể tiết kiệm được một nửa thời gian.
Để đảm bảo cho xe đi với tốc độ cao, đường cao tốc được thiết kế rất kiên cố, bền để có thể tránh được những nguy hiểm do quá phụ tải, độ dốc của mặt đường rất nhỏ, rất phẳng, lại còn phải trống trơn. Ngoài ra, đường cao tốc đều có đảo an toàn ngăn cách, trồng cây tưới nước, hoặc thiết kế lan can, một mặt để lái xe ở các hướng khác nhau không đâm vào nhau, mặt khác để tránh đèn pha của xe đối diện làm hoa mắt nhau, thông thường có 4 -8 làn xe, mỗi bên một nửa. Để không cắt các đường bình thường, nền đường của đường cao tốc thường đặt cao ở trên, xa các thành phố để tránh tạo ra tạp âm gây nhiễu cho dân cư sống ở gần 2 bên đường. Đường cao tốc còn có những đường ra vào riêng, quy định chỉ có các xe mới được vào đường cao tốc. Mặt ngoài cùng của đường cao tốc làm bằng lưới kim loại để khép kín toàn đường.
Lượng vận chuyển của đường cao tốc tương đương lượng vận chuyển của năm con đường bình thường. Đường cao tốc còn có thể giảm thiểu biên độ lớn lượng xe vận chuyển, là con đường tiến đến hiện đại.
Để đảm bảo cho xe đi với tốc độ cao, đường cao tốc được thiết kế rất kiên cố, bền để có thể tránh được những nguy hiểm do quá phụ tải, độ dốc của mặt đường rất nhỏ, rất phẳng, lại còn phải trống trơn. Ngoài ra, đường cao tốc đều có đảo an toàn ngăn cách, trồng cây tưới nước, hoặc thiết kế lan can, một mặt để lái xe ở các hướng khác nhau không đâm vào nhau, mặt khác để tránh đèn pha của xe đối diện làm hoa mắt nhau, thông thường có 4 -8 làn xe, mỗi bên một nửa. Để không cắt các đường bình thường, nền đường của đường cao tốc thường đặt cao ở trên, xa các thành phố để tránh tạo ra tạp âm gây nhiễu cho dân cư sống ở gần 2 bên đường. Đường cao tốc còn có những đường ra vào riêng, quy định chỉ có các xe mới được vào đường cao tốc. Mặt ngoài cùng của đường cao tốc làm bằng lưới kim loại để khép kín toàn đường.
Lượng vận chuyển của đường cao tốc tương đương lượng vận chuyển của năm con đường bình thường. Đường cao tốc còn có thể giảm thiểu biên độ lớn lượng xe vận chuyển, là con đường tiến đến hiện đại.