Friday, August 22, 2014

Bạn có biết loài hoa nào được gọi là "vua của các loài hoa" không?

Loài mẫu đơn được ví như "quốc sắc thiên hương" do màu sắc của nó tươi đẹp mà tao nhã, phú quý yêu kiều nên được gọi là "vua của các loài hoa". Nhà thơ Đường Lý Chính Phong có những câu thơ ca ngợi mẫu đơn.

Mẫu đơn thuộc loại cây bụi lá rụng, thường cao khoảng 1m, hoa nở vào đầu xuân, bông rất to, có loại cánh đơn và cánh kép, màu hoa cũng rất phong phú: có màu tím, hồng thẫm, hồng tươi, phấn hồng, hồng bạc, trắng, vàng, đen và màu xanh, trong đó màu vàng, xanh và hồng thẫm được coi là những màu quý hiếm.

Mẫu đơn có giá trị kinh tế cao, ngoài dùng để thưởng thức ra, vỏ của rễ cây được y học Trung Quốc gọi là "đơn bì" có tác dụng làm mát máu, tan u mụn, giải nhiệt giảm đau, ngăn ngừa các bệnh do vi trùng, hạ huyết áp, đồng thời chữa trị được bệnh trúng gió, đau nhức lưng... là loại cây có thể dùng làm thuốc nhuộm, hoa vừa có thể ăn được vừa có thể lấy tinh dầu thơm, hạt cũng có ép lấy dầu.

Đứng đầu bảng trong các loài hoa sống thành từng bụi là hoa gì?

Vào mùa đông lạnh giá, tuyết băng bay đầy trời, chỉ có hoa mai mới nở được hoa, cũng chỉ có hoa mai mới xứng được gọi là "chúa tể của các loài hoa mọc theo khóm".

Hoa mai có rất nhiều loại, chịu được giá rét, lá hình noãn, hoa có 5 cánh và nở vào đầu xuân, thường có màu phấn hồng, trắng, màu hồng, có mùi thơm, quả hình cầu, màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng, vị chua có thể ăn được. Về hình dáng của bông hoa thì có loại cánh đơn, hoa cánh kép và hoa cánh xếp.

Hoa mai ngoài công dụng để thưởng thức ra, quả của nó còn chứa một hàm lượng lớn axit amin, có thể làm thực phẩm hoặc chế biến thành ô mai, canh mai chua... Ô mai có tác dụng ngăn ngừa bệnh kiết lỵ, giải nhiệt, chống ho. Ngoài ra, gỗ của cây mai rất chắc chắn, màu sắc sặc sỡ, có thể dùng để điêu khắc những sản phẩm mỹ nghệ.

Loài hoa nào được gọi là "anh hùng trong sương"?

Vì hoa cúc có khả năng thích nghi cao, chịu đựng được sương lạnh, trải qua những ngày sương gió khắc nghiệt mà vẫn nở đẹp tươi rực rỡ nên chúng được gọi là "anh hùng trong sương".

Hoa cúc là loài thực vật mọc thành từng nhóm, lá có cuống, hình noãn, đường viền quanh lá có hình răng cưa, hoa nở vào mùa thu, qua bàn tay con người chăm sóc và nhân giống nay đã có rất nhiều loại, màu sắc, hình dánh và kích thước khác nhau, là một loại hoa được nhiều người yêu thích.

Hoa cúc không chỉ dùng để thưởng thức mà chúng còn có rất nhiều công dụng. Người xưa thường dùng cành lá non của hoa để làm món ăn. Dùng hoa cúc để cất rượu còn có công hiệu kéo dài tuổi thọ, trong hoa cúc có các thành phần vitamin A, B, axit amin và hàm lượng dầu nhanh tiêu phong phú, có thể ngăn ngừa lão hóa, phòng và chữa bệnh to tim. Người Nhật Bản đã dùng nước cất từ cánh hoa cúc làm thuốc chữa trị và phòng chống các bệnh ung thư. Người xưa cũng thường tán dương hoa cúc là "thực phẩm thần tiên".

Thursday, August 21, 2014

Sương mù được hình thành như thế nào?

Khi không khí trong lành, tầm nhìn xa có thể đạt 160 km hoặc xa hơn, còn buổi sáng khi có sương mù thì sắc trời u ám. Vậy thì sương mù được hình thành như thế nào? Nói một cách đơn giản là khi nước bốc hơi ở gần mặt đất đủ để biến thành những hạt nước thì sương mù được hình thành. Bạn cũng có thể thấy cảnh tương tự vào buổi sáng trời rét khi thở.

Xét về nguyên nhân hình thành sương mù thì sương mù có vài loại, nhưng sương mù thường gặp nhất ở đất liền gọi là sương mù bức xạ. Vào ban đêm hoặc buổi sáng sớm khi không khí trong lành, không khí rất ẩm ướt, sức gió rất nhỏ, trên bầu trời không có mây che phủ, nhiệt lượng trên mặt đất nhanh chóng bức xạ ra ngoài, làm mặt đất nhanh chóng bị lạnh, nhiệt độ tầng không khí ở gần mặt đất cũng giảm xuống. Nếu hơi nước trong không khí tương đối nhiều, nhiệt độ không khí giảm xuống đến trạng thái bão hòa thì lượng hơi nước dư sẽ ngưng kết thành những hạt nước nhó, hình thành nên sương mù. Loại sương mù này là do bức xạ lạnh trên mặt đất tạo thành, do vậy có tên là sương mù bức xạ.

Mưa axit là gì?

Mưa axit cũng là một hình thức mưa, nhưng tính nguy hại của nó rất lớn, do vậy không được mọi người chào đón.

Thực ra tất cả các kiểu mưa đều hơi có tính axit. Trong điều kiện bình thường, khi mưa rơi nó không đem lại nguy hiểm gì cho giới tự nhiên, ngược lại, mưa với một lượng thích hợp có thể cung cấp lượng nước cần thiết để sinh tồn cho loài người chúng ta và cho động thực vật, đó là điểm có lợi.

Nhưng khi khí do các nhà máy hoặc ô tô thải ra hoặc các chất hóa học làm nước bốc hơi trong không khí trở nên quá nhiều axit cũng chính là nói trong không khí có chứa một lượng lớn SO2 nên khi mưa, nước mưa sẽ có tính axit và hình thành nên mưa axit.

Mưa axit rơi vào trong hồ sẽ làm nước hồ biến thành axit, làm ô nhiễm nước hồ, các sinh vật sống trong hồ như các loại cá cũng sẽ chết; mưa axit rơi vào trong rừng sẽ làm đất mất đi thành phần chất dinh dưỡng, cây cối sinh trưởng chậm chạp, thậm chí có thể làm chết cây; mưa axit còn làm phá hoại sự sinh trưởng của mùa màng, gậy nguy hại nghiêm trọng cho hoa màu, những hạt có tính axit của mưa axit cũng có thể ăn mòn các công trình kiến trúc.

Tính nguy hại của mưa axit lớn như vậy thì làm thế nào để có thể tiêu diệt chúng đây? Nói một cách đơn giản, bảo vệ môi trường sống của chúng ta, tăng cường ý thức bảo vệ môi trường, giảm thiểu chất thải có chưa SO2 là phương pháp cơ bản để tiêu diệt mưa axit.

Sau khi mưa tại sao lại xuất hiện cầu vồng?

Không khí sau khi mưa bao h cũng rất sạch sẽ, bầu trời cũng trong vắt lạ thường, nhất là sau khi mưa lúc hoàng hôn, có lúc trên bầu trời xanh thường xuất hiện một dải cầu vồng màu sắc sặc sỡ.

Vậy cầu vồng được hình thành như thế nào? Cầu vồng được hình thành do ánh sáng Mặt Trời được hàng trăm vạn hát nước phản xạ tạo ra. Mỗi một hạt nước đều giống như một chiếc kính phức tạp, phân giải ánh sáng Mặt Trời thành những chùm tia sáng màu sắc khác nhau, mà những màu sắc này luôn xuất hiện theo thứ tự giống như là: đỏ, cam, vàng, lục, lá cây, lam, tím, do vậy cầu vồng tổng cộng có bảy màu màu sắc. Theo phương pháp chứng mình khoa học, trong ánh sáng Mặt Trời bao hàm các loại màu sắc mà bình thường chúng ta không thể nhìn thấy được, nhưng khi đường ánh sáng đi qua hạt nước sẽ bị phân giải thành các màu sắc là đỏ, cam, vàng, lá cây...

Monday, August 18, 2014

Bạn có biết mưa băng là gì không?

Vào mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 0 độ C, có lúc chúng ta nhìn thấy hiện tượng rất thú vị là "Hạt nước biến thành băng"; Rõ ràng là chúng ta nhìn thấy trời mưa, nhưng khi tới mặt đất lại lập tức biến thành băng. Đó là chuyện gì vậy?

Thì ra kiểu mưa này gọi là mưa băng, hạt nước biến thành băng gọi là mưa sương. Bản thân mưa băng không phải là do băng đông kết thành, hay là trạng thái thể lỏng; Nhiệt độ của hạt nước ở dưới 0 độ C không phải là "Nước quá lạnh" để đóng băng. Theo nguyên lý thông thường, khi nước xuống dưới 0 độ C thì phải đóng băng nhưng nếu hạt nước quá nhỏ hoặc thiếu hạt nhân đông kết thì nó vẫn giữ nguyên trạng thái ở thể lỏng chứ không đông kết. Do vậy nói mưa băng thông thường là chỉ mưa nhỏ, mưa bụi, hạt mưa có đường kính rất nhó.

Mưa băng chỉ cần rơi vào lá cây, dây điện, cáp điện hoặc các vật thể khác liền lập tức biến thành băng, đó là do hạt nước quá lạnh nên khi vừa tiếp xúc với các vật thể khác liền làm kết cấu của các phân tử nước thay đổi, hoặc làm hạt nước biến hình, tạo điều kiện để nước đóng băng.

Mưa băng là một loại thời tiết có tính tai hại. Có lúc những hạt mưa băng trên cáp điện vừa rơi xuống vừa đóng băng làm tầng băng càng ngày càng dày thêm, cột băng càng ngày càng lớn, gây nên đứt cáp điện, đổ cột điện, gây hậu quả nghiêm trọng do việc đứt thông tin liên lạc.

Có thể uống trực tiếp nước mưa không?

Trong quá trình mưa rơi, nước không phải là hoàn toàn sạch sẽ, mà nó còn mang theo rất nhiều bụi trên mặt đất và khói thải của các nhà máy, những vi khuẩn nhỏ bé trong không khí cũng sẽ trộn lẫn vào nước mưa. Ngày nay khi không khí gây ô nhiễm trong nước mưa ngày càng nhiều, thành phần ngày càng phức tạp và có tính nguy hại trực tiếp đến sức khỏe của con người. Do vậy không thể trực tiếp uống nước mưa.

Nhưng sau khi nước mưa ngấm vào lòng đất, trong quá trình thẩm thấu, lượng bùn cát dẫy sẽ lọc sạch những chất gây ô nhiễm như bụi, vi khuẩn ..., lúc đó nước mưa đã biến thành thứ nước tương đối sạch sẽ. Nước mưa được lọc qua hàng tầng lọc như vậy được lưu giữ trong lòng đất trở thành nước ngầm.

Có thể làm mưa nhân tạo không?

Nguyên lý làm mưa nhân tạo chính là tạo ra một số vật chất để hơi nước trong tầng mây có một hạt nhân ngưng kết làm hạt nước không ngừng lớn lên, cuối cùng tạo ra hiệu quả là mưa rơi.

Thực tế quá trình làm mưa nhan tạo là một quá trình thúc mưa. Chúng ta biết rằng, trên bầu trời có mây lạnh và mây ấm. Nếu như chúng thiếu hạt nhân ngưng kết, tập trung hơi nước thì sẽ không tạo ra mưa. Nhưng ví dụ chúng ta cho băng khô, Bạc iot vào trong mây lạnh, cho Clorua Canxi vào trong mây ấm thì sẽ làm hạt nước trong mây lớn lên tạo thành hạt mưa và rơi xuống.

Ngày nay, mưa nhân tạo đã được ứng dụng rộng rãi, trong đó cách sử dụng băng khô tạo mưa có hiệu quả tốt nhất. Trung Quốc đã thành công trong việc vận dụng loại vật chất này để hoàn thành việc làm mưa nhân tạo.

Tại sao sau khi nhìn thấy chớp mới nghe thấy tiếng sấm?

Chớp và sấm đều đồng thời được sinh ra, nhưng do chớp là loại sóng quang còn sấm là một loại âm thanh; đồng thời tốc độ truyền sóng quang trong không khí nhanh hơn rất nhiều lần tốc độ truyền âm thanh trong không khí, do vậy khi mưa lúc nào ta cũng thấy sau khi có chớp mới nghe thấy tiếng sấm. Nói một cách cụ thể tốc độ truyền dẫn quang trong không khí là 300.000.000 m/s, còn tốc độ truyền dẫn của sóng âm là 340 m/s, độ chênh lệch tương đối lớn.

Không chỉ tốc độ truyền dẫn của tiếng sấm chậm, mà khoảng cách truyền dẫn của sấm cũng có hạn, khi vượt quá 30.000 m là đã rất khó có thể nghe thấy. Còn ánh sáng lóa mắt do chớp tạo ra thông thường trong phạm vi 100.000 | 200.000 m đều có thể nhìn thấy.

Tại sao lại có mưa?

Mưa cung cấp lượng nước cần thiết cho động vật, thực vật và con người để sinh tồn. Nếu không có mưa thì tuyệt đại bộ phận sinh vật hiện có trên địa cầu sẽ sống ở biển cả.

Do sông, ngòi, hồ ao, biển bị Mặt Trời chiếu rọi trở nên nóng bức, nước biến thành thể khí không thể nhìn thấy được gọi là hơi nước. Hơi nước bay lên cao lại biến thành những hạt nước nhỏ, cuối cùng biến thành mây. Những hạt nước nhỏ tiếp tục lớn lên, đến khi chúng đủ nặng thì rơi xuống đất thành mưa. Như vậy, nước hết lần này đến lần khác bốc hơi rồi lại biến thành mưa, đó chính là vòng tuần hoàn của nước.

Vậy thì quá trình mưa rơi cụ thể của mỗi lần là như thế nào?

Chúng ta biết rằng, những hạt nước hoặc những hạt băng tạo thành mây là rất nhỏ, dòng khí bay lên cũng không ngừng vận chuyển hơi nước vào trong đám mây. Những hạt nước và hạt băng nhỏ ở trong mây không ngừng va đập vào nhau trong quá trình chuyển động, thể tích sẽ tăng lên. Những hạt nước ở tầng dưới dần dần lớn lên, sau đó thể tích băng ở tầng trên cũng tăng lên, sẽ rơi vào giữa những hạt nước tầng dưới, dính liền vào nhau, hợp với nhau, hạt nước sẽ càng ngày càng lớn. Khi những hạt nước này lớn đến độ dòng khí lên không đỡ nổi chúng thì chúng sẽ rơi xuống từ mây, đó chính là mưa.

Saturday, August 9, 2014

Mưa đá được hình thành như thế nào?

Mưa đá và mưa giống nhau cũng đều là từ trên mây rơi xuống, chỉ có điều tơi xuống không phải là giọt nước mà là những cục đá nhỏ. Mây của mưa đá từ tâng không khí thấp gần với mặt đất tiến rất cao lên phía trên, nhiệt độ phía trên tầng mây ở vào khoảng dưới âm 20 độ C, ở đây hơi nước dư thừa trong đám mây trở thành rất nhiều hạt băng nhỏ. Trong một số các tầng mây ở phía dưới, do các nguyên nhân khác nhau nên không kết thành những hạt băng mà trở thành những giọt nước dưới 0 độ, được gọi là giọt nước lạnh. Luồng không khí liên tục đưa một lượng lớn những hạt nước lạnh từ không khí thấp đến tầng trên, do nhiệt độ tầng trên càng thấp hơn, những giọt nước lạnh này sẽ bị bay hơi. Những hơi nước bị bay ra sẽ đông kết ở trong tầng không khí vốn đã có những hạt băng nhỏ, thể tích của hạt băng sẽ ngày càng lớn, khi lớn đến một mức độ nào đó nó sẽ bị rơi xuống phía dưới.

Khi xuống đến tầng mây cuối cùng bề ngoài của hạt băng lại được bọc thêm một màng nước. Các luồng khí bay lên lúc mạnh lúc yếu các hạt băng nhỏ này cứ phải quay cuồng ở tầng giữa, tầng trên và tầng dưới giống như là lăn bánh nguyên tiêu vậy nó không ngừng được bọc thêm những tầng áo băng, càng lăn nó càng dầy và càng lớn. Trong quá trình lên và xuống, những hạt băng nhỏ này va đập với nhau, dính lại với nhau, hạt băng sẽ càng ngày càng to hơn. Khi những luồng khí bay lên phía trên không thể kéo nổi chúng thì chúng sẽ rơi xuống dưới mặt đất, đó chính là mưa đá.

Bốn mùa đã được hình thành như thế nào?

Trái Đất ngoài việc tự quay chuyển ra còn quay quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo nhất định tức còn quay tròn. Sự biến đổi của 4 mùa xuân, hạ, thu, đông là do Trái Đất quay quanh Mặt Trời mà thành.

Trái Đất thường quay quanh Mặt Trời với tư thế nghiêng, cũng có thể nói là trục của Trái Đất không hệ vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo quay tròn mà hình thành một góc 66 độ 33', từ đó khiến cho mặt phẳng đường xích đạo của Trái Đất và quỹ đạo quay tròn của nó hình thành góc 23 độ 27'. Đồng thời khi Trái Đất quay vòng quanh Mặt Trời, hướng nghiêng của trục Trái Đất luôn giữ được nguyên không hề thay đổi, luôn chỉ về hướng Bắc cực. Như vậy, phạm vi và vị trí của tia nắng Mặt Trời chiếu thẳng xuống Trái Đất chỉ có thể biến đổi theo chu kỳ ở giữa vĩ độ 23 độ 27' hai phía Nam Bắc của đường xích đạo. Do có sự biến đổi này mà thời tiết đã có thay đổi giữa nóng và lạnh, do vậy xuất hiện 4 mùa xuân hạ thu đông.

Cùng với việc tự quay chuyển quanh trục của Trái Đất, những vùng khác nhau luôn có mấy tháng nghiêng về Mặt Trời, những vùng nghiêng về Mặt Trời là mùa hạ, ngược lại là mùa Đông. Do thời gian Mặt Trời chiếu thẳng xuống bán cầu Nam Bắc ngược nhau cho nên 4 mùa tại Nam Bắc bán cầu cũng ngược nhau.

Sao chổi Ha-lây đã được đặt tên như thế nào?

Có thể nói sao chổi Ha lây là người bạn cũ của nhân loại, vào thời Vũ Hán Vương chinh phạt các nước, các tổ tiên của dân tộc Trung Hoa đã nhìn thấy nó. Mỗi lần nó xuất hiện là lại đem lại niềm vui và sự xúc động cho nhân loại, mọi người đã được tận mắt chứng kiến sự đặc sắc của nó, nhưng tại sao nó lại được đặt tên là "Ha-lây"?

Đầu thế kỷ 17, có một nhà thiên văn học người Anh tên là Ha-lây đã quan sát được một ngôi sao chổi rất đặc biệt và đã ghi chép lại tình huống lúc đó, ông đã tính toán quỹ đạo, chu kỳ quay chuyển của nó dựa vào định luật vạn vật hấp dẫn, ông đã tuyên truyền rằng cứ cách khoảng 76 năm thì ngôi sao chổi này lại xuất hiện ở gần Mặt Trời một lần, ông còn tính toán một cách chuẩn xác rằng vào ngày 13 tháng 3 năm 1758 sao chổi sẽ xuất hiện ở gần Mặt Trời, đây chính là ngôi sao chổi đầu tiên mà nhân loại đã tính ra chu kỳ hoạt động, do vậy mà sao chổi Ha-lây đã được đặt tên như vậy.

Bạn có hiểu gì về huệ tinh (sao chổi) không?

Các ngôi sao trên bầu trời đêm bất luận là hành tinh hay hằng tinh thì xem ra đều là những điểm phát sáng lấp lánh. Nhưng có lúc trên bầu trời đột nhiên xuất hiện những ngôi sao dị dạng: đầu của chúng rất tròn, phần đuôi mở ra giống như là một nhát chổi quét qua bầu trời. Đó chính là sao chổi mà chúng ta thường nói tới. Trong dân gian thường gọi nó một cách rất hình tượng là sao chổi.

Nói một cách nghiêm khắc sao chổi vẫn chưa được coi là một ngôi sao, nó chỉ là một thiên thể đặc biệt giống như ngôi sao. Sao chổi là một đám khí lạnh có kèm theo hơi nước và bụi vũ trụ. Mật độ của nó rất nhỏ, chỉ là một đám khí thể rất mỏng nhưng thể tích lại rất lớn, to hơn bất kỳ một tinh thể nào trong hệ Mặt Trời. Độ dài từ đầu đến đuôi của nó đến 350 triệu km.

Một sao chổi hoàn chỉnh bao gồm 3 bộ phận là tuệ hạt (phần hạt), tuệ phát (phần tóc) và tuệ vĩ (phần đuôi). Tuệ hạt được tạo nên từ các vật chất rắn dạng rắn kết hợp với nhau tựa như những đám mây đó chính là tuệ phát, tuệ hạt và tuệ phát được gọi chung là tuệ đầu (đầu sao chổi). Phần đuôi rất dài ở đằng sau được gọi là tuệ vĩ (đuôi sao chổi). Phần đuôi của sao chổi không phải cứ thế tự nhiên mà có, mà là do khi ở gần Mặt Trời bị gió ở Mặt Trời thổi ra mà thành, cho nên nó thường kéo dài ra đằng sau Mặt Trời. Những ngôi sao chổi lớn, chỉ phần đầu của nó đã lớn hơn 145 lần Trái Đất.

Friday, August 8, 2014

Siêu tân tinh là gì?

Những ngôi sao siêu tân tinh (ngôi sao có độ sáng vượt quá 10 triệu lần độ sáng ban đầu) cũng giống như những ngôi sao tân tinh, chúng đều là những ngôi sao thay đổi sau trận phát nổ và là một hằng tinh lớn bị phát nổ sau khi nhiên liệu đã bị hết. Khi chúng phát nổ, độ sáng của hằng tinh sẽ tăng lên gấp hàng vạn lần thậm chí là hàng trăm triệu lần. Những ngôi sao tân tinh không giống như bình thường, chúng ta có thể so sánh được điều đó.

Ngôi sao siêu tân tinh là giai đoạn cuối của quá trình diễn biến trong các hằng tinh. Những ngôi sao siêu tân tinh sau khi phát nổ đại để có 3 kết cục sau: Sau khi phát nổ các vật chất hằng tinh bắn vào trong không gian sẽ trở thành di tích của các vì sao còn những vật chất hằng tinh còn sót lại nếu như kích thước của chúng gấp 3 lần Mặt Trời thì sẽ bị co lại thành những "hố đen". Nếu như kích thước nhỏ hơn 1,4 Mặt Trời thì sẽ bị co lại thành những ngôi sao bạch oải tinh. Nếu như kích thước ở giữa hai kích thước trên thì co lại thành sao trung tử. Chúng đều là những nguồn của sóng điện, tia X-quang và nguồn bức xạ vũ trụ rất mạnh.

Việc nghiên cứu các ngôi sao tân tinh đã mở ra một cánh cửa lớn cho việc tìm hiểu khởi nguồn vũ trụ, quan sát diễn biến của các hành tinh, mở ra càng nhiều hơn các bí mật trong bầu trời không gian.

Bạn có biết gì về bạch oải tinh không?

Chúng ta đã biết rằng, mỗi một hành tinh đều có quá trình hình thành của nó, chúng đều có quá trình phình ra và co lại. Cũng giống như vậy, tất cả các hằng tinh đều có ngày sẽ biến mất.

Khi nhiệt độ ở trung tâm hằng tinh lên đến 7.000.000 độ phản ứng hạt nhân do hydro trở thành Heli đã bắt đầu, toàn bộ hằng tinh trở thành một quả cầu lửa rất to, nó bắt đầu bước vào thời kỳ thình vượng. Nhưng khi các khí thể cháy hết hằng tinh bèn phình ra gấp 50 lần so với trước đây. Thời kỳ cuối trong tuổi thọ của nó, nó trở nên rất sáng sau đó phát nổ, nguội dần và co lại. Hằng tinh nhỏ, bạch oải tinh được hình thành qua quá trình thay đổi này. Bạch oải tinh thực ra là một hằng tinh đã mất hết khí Hydro, nó sẽ bị biến mất đi trong vũ trụ.

Tuổi thọ của Mặt Trời vào khoảng 10 tỷ năm. Hiện tại đang ở vào thời kỳ khá ổn định. Khoảng 5 tỷ năm sau, Mặt Trời cũng sẽ bị cháy hết nhiên liệu khí Hydro của nó, lúc này nó sẽ sáng gấp 100 lần so với hiện tại, nó phình ra và nuốt trôi một số hành tinh ở gần nó. Ngôi nhà chung của chúng ta, Trái Đất cũng sẽ bị nó nuốt trôi, sau đó khoảng 100 triệu năm Mặt Trời sẽ bị co lại thành một ngôi sao bạch oải tinh và cuối cùng biến mất trong vũ trụ bao la.

Bạn hiểu gì về lục đẳng tinh?

Các nhà thiên văn học đã dựa theo độ sáng của các hằng tinh (Độ sáng này là chỉ độ sáng mà chúng ta cảm nhận thấy bằng mắt thường chứ không phải do độ sáng của bản thân hằng tinh), để chia các hẳng tinh ra làm 6 cấp độ. Trong đó sáng nhất là cấp 1 kế đố là đến cấp 2 và cấp 3... Dùng mắt thường có thể thấy hằng tinh tối nhất chính là hằng tinh cấp 6.

Để chia cấp độ của các ngôi sao nhất định phải đoán được độ sáng của hằng tinh. Một hằng tinh có độ sáng là 0 là rất sáng, hằng tinh có độ sáng là 5 thì vừa mới được nhìn thấy. Trong thực tế độ sáng của những hằng tinh sáng là số âm. Ngôi sao Thiên lang sáng nhất trong bầu trời có độ sáng là -1.5. Phương pháp phân chia đẳng cấp của các ngôi sao đã có từ 2000 năm trước, thiên văn học cận đại đã sử dụng phương pháp phân chia này và đã đặt ra chỉ số chênh lệch về độ sáng giữa các ngôi sao là 2,512 lần. Cùng với tiến bộ của kỹ thuật quan sát việc phân chia cấp độ của các ngôi sao cũng trở nên ngày càng tỷ mỷ hơn trước mắt mọi người thường dùng kính viễn vọng và quan sát được có 23 cấp độ của các ngôi sao, chúng còn tối hơn 6300.000 lần so với 6 cấp độ sao mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường.

Hằng tinh được tạo thành do vật chất gì?

Nếu so sánh giữa hành tinh và hằng tinh thì hằng tinh là chỉ những tinh thể mà bản thân nó có thể tự phát sáng, hơn nữa vị trí của nó tương đối cố định. Mặt Trời là một hằng tinh, những vì sao mà chúng ta nhìn thấy vào buổi tối đa số đều là những hằng tinh không di chuyển.

Các nhà thiên văn học cho rằng hằng tinh là một đám khí thể và bụi có hình xoắn ốc dần dần chúng được kết tụ mà thành. Thành phần khí thể tạo ra hằng tinh phần lớn là khí hidro và một phần nhỏ là khí heli, còn có một lượng nhỏ là các khí khác; ngoài ra còn có một số các vật chất khác như sắt, cacbon...

Phần khí thể của phía trong hằng tinh do có nhiệt độ cao nên đã gây ra phản ứng hạt nhân nhiệt giống như những vụ nổ đạn khí hidro, do vậy đã sản sinh ra năng lượng rất lớn và phát ra ánh sáng, loại ánh sáng này có thể kéo dài đến 10 tỷ năm. Do ánh sáng phát ra từ hằng tinh rất mạnh nên khiến cho con người rất khó có thể quan sát vật chất bên trong của nó, chỉ có dựa vào những tính toán phức tạp và tỉ mỉ của các nhà khoa học và thiên văn học mới có thể biết được, cho nên nhân loại còn không ngừng đi sâu nghiên cứu và quan sát hằng tinh.

Làm thế nào phân biệt phương hướng thông qua các ngôi sao?

Khi đi cắm trại ở bên ngoài hoặc đi tàu viễn dương, nếu như mất phương hướng chúng ta có thể dựa vào độ cao của bầu trời và các ngôi sao để tính toán vị trí của mình và phương hướng một cách chuẩn xác. Vậy thì, làm thế nào để phân biệt các phương hướng nhờ vào các ngôi sao?

Ngôi sao Bắc Đẩu Thất Tinh là một ngôi sao mà mọi người rất quen thuộc, nó là một trong 7 ngôi so sáng nhất trong chòm sao Con gấu trên bầu trời phương Bắc. Bảy ngôi sao xếp thành một cái thìa có cán rất dài trên bầu trời, cho nên được gọi là Bắc Đẩu, nó chỉ về hướng Bắc. Bắc đẩu thất tinh không chỉ có thể giúp chúng ra phán đoán phương hướng, hơn nữa nó còn chỉ những mùa màng khác nhau: Vào mùa xuân cán của chiếc thìa chỉ về phía Đông, vào mùa hạ thì chỉ về phía Nam, vào mùa thu chỉ về hướng Tây, vào mùa đông thì chỉ về hướng Bắc.

Cách đầu cán thìa của Bắc đẩu bội tinh không xa, ở phía đuôi của chòm sao Con gấu nhỏ có một ngôi sao có chòm sáng gần như ngôi sao Bắc đẩu bội tinh, nó được treo rất cao ở bầu trời phía Bắc, đây chính là ngôi sao Bắc cực rất nổi tiếng, ngôi sao Bắc cực chính là dấu hiệu tin cậy để nhận biết phương hướng, mỗi buổi tối các ngôi sao đều di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây (trên thực tế là Trái Đất của chúng ta đang tự di chuyển từ hướng Tây sang hướng Đông). Chỉ có ngôi sao Bắc cực là vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ, đó là bởi vì vị trí của ngôi sao Bắc cực ở vào đoạn phía Bắc trong trục quay của Trái Đất.

Ngôi sao Bắc cực ở cách chúng ta rất xa nên nhìn lên cũng không thấy nó sáng rõ lắm nhưng vị trí của nó khá quan trọng, nó có thể giúp chúng ta nhận biết và phân biệt phương hướng.

Mặt trăng cách Trái Đất bao xa?

Nguyệt cầu thường được gọi là Mặt trăng, là một tinh cầu trong hệ Mặt Trời, ngày xưa người ta gọi Mặt trăng là thái âm. Mặt trăng không giống như các hành tinh khác thường lấy Mặt Trời làm trung tâm xoay chuyển mà nó quay quanh Trái Đất, nó là vệ tinh thiên nhiên duy nhất của Trái Đất. Ánh sáng của Mặt trăng có được do Mặt Trời chiếu vào, bản thân nó không bao giờ phát sáng hoặc phát nhiệt.

Mặt trăng là thiên thể gần nhất so với Trái Đất trong vũ trụ. Khoảng cách trung bình giữa Mặt trăng và Trái Đất là 384.400 km. Nếu như con người đi bộ từ Trái Đất tới Mặt trăng thì phải mất khoảng thời gian là 9 năm. Nếu như phi thuyền vũ trụ thì mỗi lần đi về từ Trái Đất đến Mặt trăng phải mất hơn 7 ngày. Phi thuyền vũ trụ Apolo 11 được phóng từ Trái Đất chỉ cần 4 ngày là có thể đến được Mặt trăng. Do Mặt trăng cách Trái Đất quá gần cho nên xem ra thì nó lớn hơn các vì sao quá nhiều. Phân tích và phán đoán về các mẫu nham thạch được thu thập từ Mặt trăng thì thấy rằng Mặt trăng không có dấu tích của sinh vật sinh tồn.

Bạn biết gì về học thuyết cấu tạo của các mảnh?

Học thuyết về sự cấu tạo của các mảnh được xác lập vào cuối niên đại thứ 60 của thế kỷ 20, là lý luận về cấu tạo toàn cầu có ảnh hưởng nhất trong thời đại đó.

Học thuyết về sự cấu tạo của các mảnh cho rằng, vòng nham thạch của Trái Đất không phải là một khối chỉnh thể mà bị phân chia thành rất nhiều các đơn nguyên có cấu tạo, các đơn nguyên có cấu tạo này được gọi là các mảnh. Vòng nham thạch trên toàn cầu được chia thành 6 mảnh, trong đó chỉ có mảnh Thái Bình Dương hầu như hoàn toàn là biển, 5 mảnh còn lại đều có các lục địa lớn và rất nhiều diện tích là mặt biển. Nói chung, vỏ địa chất của các mảnh này đều khá ổn định, nơi giao giữa mảnh này và mảnh kia là vùng mà vỏ Trái Đất hoạt động khá linh hoạt, vỏ địa chất không ổn định.

Bộ mặt cơ bản của Trái Đất được hình thành do các mảnh này di chuyển va đập vào nhau hoặc bị rạn nứt mà thành. Ở những vùng mà các mảnh này va đập và ép vào nhau thì thường trở thành những mạch núi. Khi những mảnh đại dương và những mảnh lục địa va đập vào nhau thì hình thành hõm sâu dưới đáy biển và trở thành chỗ sâu nhất dưới lòng biển, những nơi mà các mảnh đại lục va đập vào nhau lại thường hình thành những dãy núi hùng vĩ. Dãy núi Hymalaya chính được hình thành trong quá trình các mảnh lục địa Ấn Độ va đập với mảnh lục địa Á-Âu.

Hiện tại, lý luận về sự cấu tạo của các miếng thường được dùng để giải thích sự hình thành và phân bố của núi lửa và động đất... lý luận về sự cấu tạo của các miếng là mô hình rất có hiệu quả để giải thích các hiện tượng và tác dụng địa chất của Trái Đất.

Trên Trái Đất phần lục địa rộng hơn hay đại dương rộng hơn?

Mọi người thường nói, đứng ở trên cao mới nhìn được xa. Chỉ có nhìn thấy toàn thể Trái Đất mới có thể biết được cách thức bố trí của biển và lục địa trên bề mặt Trái Đất, mới có thể biết rõ được phần biển rộng hơn hay lục địa rộng hơn.

Trái Đất mà các nhà khoa học nhìn thấy trong du hành vũ trụ là một quả cầu màu lam rất đẹp. Bức ảnh về Trái Đất được chụp do vệ tinh nhân tạo cũng cho thấy phần lớn diện tích trên bề mặt Trái Đất có màu xanh lam. Tại sao như vậy? Bởi vì phần lớn bề mặt của Trái Đất là nước.

Các học giả về Trái Đất đã phán đoán một cách rất chính xác diện tích của phần lục địa và phần đại dương trên Trái Đất. Diện tích bề mặt Trái Đất là 510.000.000 km2, trong đó diện tích mặt biển là 361.000.000 km2, chiếm khoảng 70,8% diện tích bề mặt Trái Đất. Diện tích lục địa là 149.000.000 km2 chỉ chiếm 29,2% diện tích bề mặt. Do vậy, có thể đưa ra một kết luận rất rõ ràng rằng: trên Trái Đất diện tích đại dương lớn hơn rất nhiều so với diện tích lục địa.

Wednesday, August 6, 2014

Trên bề mặt sao Thủy có nước không?

Thủy tinh là một trong 5 hành tinh mà con người có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Thủy tinh nhỏ hơn rất nhiều so với bề mặt Trái Đất, thể tích của nó chỉ bằng 5.6% của Trái Đất, cách nhau rất xa, gần 100.000.000 km cho nên rất khó có thể nhìn thấy rõ toàn bộ diện mạo của nó. Trở ngại càng lớn hơn là nó cách Mặt Trời rất gần, nếu nhìn từ Trái Đất có lúc bị Mặt Trời che lấp, có lúc nó nó lại ở phía trước Mặt Trời, nếu Mặt Trời quá chói thì Thủy tinh chỉ là một điểm đen nhỏ giống như hạt vừng. Cho dù cơ hội quan sát như vậy  trong vòng 100 năm chỉ có 13 lần. Mấy trăm năm trở lại đây, các nhà thiên văn học luôn rất đau đầu về việc không biêt rõ được diện mạo của Thủy tinh. Câu hỏi về trên Thủy tinh có nước không phải cho đến năm 1973 mới được giải đáp. Nước Mỹ đã phóng phi thuyền không gian tới sao Thủy và đã chụp được hơn 5000 bức ảnh từ khoảng cách rất gần để gửi về Trái Đất. Từ đó nhân loại mới thấy bộ mặt thật của sao Thủy lần đầu tiên: trên bầu trời không có khí quyển, trên bề mặt chỗ nào cũng có núi và thung lũng to nhỏ hình tròn, một mặt hướng về Mặt Trời có nhiệt độ là 427 độ C, mặt lưng quay về Mặt Trời thì nhiệt độ hạ xuống chỉ còn -171 độ C. Với điều kiện như vậy, dù trước đây đã từng có nước hoặc hơi nước thì cũng sớn phân tán vào không gian vũ trụ.

Ngày nay, mọi người nhìn thấy chỉ là một tinh cầu khô cằn, hoang vắng nhưng cái tên không đúng với thực tế "Thủy tinh" vẫn được tiếp tục sử dụng.

Hành tinh nào là lớn nhất trong 9 hành tinh?

Trong hệ Mặt Trời có 9 hành tinh lớn. Tuy rằng đều là hành tinh lớn nhưng sự chênh lệch là rất khác nhau. Trong đó lớn nhất là Mộc tinh, vào thời cổ đại Trung Quốc gọi nó là "Tuế tinh".

Mộc tinh có kích thước là bao nhiêu? Đường kình của nó là 142.800 km, tương đương với 11,2 đường kình của Trái Đất, thể tích bằng 1316 lần Trái Đất, mà đường kính của sao Diêm Vương chỉ có 2284 km, trong lòng Mộc tinh có thể chứa được 300.000 sao Diêm Vương.

Sao Mộc rất lớn, nó có khoảng 16 vệ tinh. Trong đó Mộc vệ tinh 1, Mộc vệ tinh 3, Mộc vệ tinh 4 còn lớn hơn cả hành tinh lớn là sao Diêm Vương. Còn về Mộc vệ tinh 3 còn là một trong 60 vệ tinh lớn nhất trong hệ Mặt Trời, không những nó lớn hơn vệ tinh nguyệt cầu của Trái Đất mà thậm chí còn lớn hơn cả Thủy Tinh.

Mọi người còn phát hiện ra rằng trật tự sắp xếp của quỹ đạo vận hành của những vệ tinh này quanh Mặt Trời cũng rất đặc biệt, nhất là mối quan hệ giữa khoảng cách và trật tự sắp xếp 4 hành tinh lớn rất giống mối quan hệ của các hành tinh lớn và Mặt Trời. Đặc biệt là sau khi các nhà thiên văn học phát hiện ra rằng Mộc tinh còn có thể tự phát nhiệt, có người còn nghi ngờ rằng không biêt Mộc tinh có phải là một hành tinh hay không. Có người còn nói một cách dứt khoát rằng, Mộc tinh và vệ tinh của nó đã cấu thành một tinh hệ nhỏ giống như bức tranh thu nhó của hệ Mặt Trời.

Tuesday, August 5, 2014

Hành tinh màu đỏ là chỉ hành tinh nào?

Hỏa tinh là một hành tinh cách Trái Đất khá gần, bề mặt của Hỏa tinh hầu hết là sa mạc và nham thạch, trong đó thì chứa rất nhiều muối axit xi-li-lic màu hồng và quặng sắt màu đỏ tía và các kim loại khác, chúng đã làm cho Hỏa tinh phát ra màu vàng da cam rất sáng và khiến cho người ta thích thú.

Nếu quan sát tỉ mỉ hành tinh có màu đỏ như lửa này thì có thể thấy nó chầm chậm chuyển động xuyên qua các ngôi sao, ánh sáng của lửa luôn thay đổi lúc mạnh lúc yếu, hơn nữa hướng bay và sự thay đổi của độ sáng dường như không có quy luật. Cho nên, ngày xưa người châu Âu đã coi nó là "ngôi sao thần chiến" , cho rằng nó tượng trưng cho chiến tranh và tai họa, người Trung Quốc cũng cho rằng nó là một ngôi sao không có lợi, họ gọi nó là "ngôi sao mê hoặc".

Ở ngoài Trái Đất, Hỏa tinh vận hành quanh Mặt Trời theo quỹ đạo gấp rưỡi Trái Đất, hơn nữa giữa nó và Trái Đất có rất nhiều đặt trưng giống nhau: cùng có sự giao nhau giữa ngày và đêm và sự thay đổi của bốn mùa, ở trên Hỏa tinh, Mặt Trời cũng mọc từ hướng Đông và lặn ở hướng Tây, chu kỳ tự quay của nó gần với Trái Đất là 24 giờ 37 phút, chỉ chậm hơn nửa tiếng, hơn nữa nó cũng có vệ tinh (hai vệ tinh)...

Nhưng sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm trên Hỏa tinh lớn hơn rất nhiều so với Trái Đất, nhiệt độ cao nhất vào ban ngày là 28 độ C, ban đêm lại hạ xuống chỉ còn âm 132 độ C. Với điều kiện như vậy, đương nhiên là không có sự sinh trưởng của bất kỳ sinh vật nào, càng chẳng cần phải nói gì đến sự sinh tồn của loài người. Mặt ngoài của Hỏa tinh là một vùng đất mênh mông khô cằn, thê lương, có rất nhiều cát, nham thạch và miệng núi lửa, còn có ngọn núi cao hơn cả ngọn Hymalaya. Trên Hỏa tinh tuy rằng có tầng khí quyển, nhưng trên 95% là khí CO2, hơn nữa lại còn rất mỏng, dướng khí là rất hiếm thấy.

Hệ mặt trời bao gồm những tinh cầu nào?

Hệ Mặt Trời là một hệ thống thiên thể cực kỳ to lớn với trung tâm là Mặt Trời, nó do Mặt Trời và 9 hành tinh, hơn 50 vệ tinh, hơn 2000 tiểu hành tinh đã quan sát thấy và vô vàn sao chổi, sao băng hợp thành.

Hệ Mặt Trời là một hệ thống thiên thể to lớn giống như một đại gia đình rất trật tự, tất cả các thiên thể đều lấy Mặt Trời làm trung tâm, chúng xoay chuyển một cách có trật tự dọc theo quỹ đạo của mình, hơn nữa hướng xoay chuyển về cơ bản là giống nhau, nó xoay chuyển trên một mặt phẳng. Về sự vận hành của rất nhiều các thiên thể trong hệ Mặt Trời, 9 hành tinh lớn là nhìn thấy rõ nhất.

Kích thước của 9 hành tinh này to nhỏ khác nhau, thông thường dựa theo khoảng cách với Mặt Trời là gần hay xa để sắp xếp từ gần đến xa, tức: sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Diêm Vương. Trong đó sao Thủy cách Mặt Trời gần nhất, thể tích xếp vào hàng thứ 2, có đường kính khoảng 4880 km, sao Kim là một hành tinh sáng nhất, nếu nhìn từ Trái Đất lên nó rất lấp lánh và bắt mắt, độ sáng chỉ đứng sau Mặt Trời và Mặt Trăng, sao Hỏa là hành tinh màu đỏ như lửa, là một ngôi sao đẹp nhất trong trời sao, sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong 9 hành tinh lớn, gộp tất cả các hành tinh và vệ tinh trong hệ Mặt Trời cũng không lớn bằng sao Mộc, thể tích của sao Mộc tương đương với hơn 1300 Trái Đất, trọng lượng gấp 318 lần Trái Đất, trong thiên văn học gọi nó là "hành tinh lớn", sao Thổ là một hành tinh rất đẹp, bên ngoài nó được bao phủ bằng một vòng ánh sáng, sao Thiên Vương cũng có một vòng ánh sáng đẹp giống hệt như sao Thổ.

Monday, August 4, 2014

Tại sao pháo hoa có nhiều màu sắc?

Trong đêm lễ hội, những màu sắc rực rỡ của pháo hoa đã điểm tô cho đêm càng tuyệt vời hơn. Bạn có biết pháo hoa được làm từ những gì không? Phần dưới của pháo hoa được làm bởi hỗn hợp của chất Kalinitrat, lưu huỳnh và bột than gỗ. Nhiệm vụ của nó là sau khi thuốc nổ được đốt lên thì nó sẽ đẩy pháo hoa lên trời. Phần trên của pháo hoa mới là phần trọng tâm, bên trong nó là nguyên liệu đốt, chất trợ cháy, chúng có thể tạo ra một số màu sắc, làm tăng thêm độ sáng cho pháo hoa.

Nhưng thuốc phát sáng mới là nguyên nhân làm cho pháo hoa có nhiều màu sắc như vậy.

Thuốc tạo màu sắc là các loại muối kim loại khác nhau. Các loại muối này ở nhiệt độ cao có thể thể hiện rõ được "bản sắc" riêng của mình. Ví dụ muối Stơrôn sẽ phát ra màu đỏ, bari lại cho màu xanh, còn muối đồng - đồng axit cacbonnic lại cho màu xanh lam...

Con người đang lợi dụng những nguyên lý phản ứng oxy hóa của các muối kim loại khác nhau, có thể phát sáng những màu sắc khác nhau để làm ra nhiều chủng loại pháo hoa đẹp khác nhau.

Tại sao bức tường bên ngoài các ngôi nhà cao tầng lại làm bằng thủy tinh?

Ở một số thành phố lớn, nhất định các bạn sẽ thấy một số ngôi nhà chọc trời tới trên vài chục tầng. Một số ngôi nhà chọc trời có tường ngoài trông như mặt kính, nó có thể chiếu rọi cánh sắc của môi trường xung quanh như bầu trời, đám mây trắng, đoàn xe cộ, tốp người. Loại thủy tinh này được gọi là tường màn thủy tinh.

Dùng loại tường màn thủy tinh này không phải chỉ vì mục đích mỹ quan. Các kiến trúc cao tầng phải chịu được áp lực thẳng góc lớn vì vậy móng của nó phải rất vững chắc. Trọng lượng bản thân nó phải nhẹ hơn một chút. Diện tích thủy tinh của mặt kính lớn, trọng lượng nhẹ là nguyên liệu tường ngoài các kiến trúc cao tầng lý tưởng nhất.

Lớp thủy tinh mặt kính là một lớp màng mỏng dùng phương pháp hóa học mạ lên thủy tinh, nó có nhiều màu sắc khác nhau màu vàng, màu bạc, màu xanh...v.v, nó có thể phản xạ lại tia sáng và nhiệt lượng từ bên ngoài, có tác dụng cách nhiệt. Thủy tinh mặt gương còn có tác dụng cách âm, mặt khác nó còn có đặc điểm là người bên trong có thể nhìn ra bên ngoài, còn người ở bên ngoài lại không nhìn thấy được bên trong, điều này sẽ đảm bảo một môi trường thuận lợi trong phòng làm việc.

Tại sao có loại giấy kẹo có thể ăn được?

Bên ngoài lớp vỏ kẹo của rất nhiều những loại kẹo mềm cao cấp còn được bọc một lớp giấy mỏng trong suốt. Có bạn nhỏ khi ăn kẹo thường ăn cả lớp giấy kẹo bên ngoài.

Loại "giấy" này được gọi là "giấy gạo nếp" có thể ăn được. "Giấy gạo nếp" không phải làm từ gạo nếp mà dùng bột lọc của ngô hay tiểu mạch làm thành. Các công nhân đã trộn bột này thành dạng hồ loãng, rồi quét đều lên máy sấy, sau khi sấy khô nó sẽ thành "giấy gạo nếp" nửa trong suốt. Trên kẹo mềm bọc một lớp này vừa tránh cho kẹo khỏi dính lên giấy, vừa có thể ăn được, thật là "một công đôi việc".

Bạn có biết kẹo cao su được phát minh như thế nào không?

Tại Mêxico có một loại cây hồng xiêm có thể tiết ra nhựa cây, người ở đó thường cho loại nhựa này vào miệng và nhai cho vui, về sau một vị tướng quân người Meexxico đã cho rằng loại nhựa cây này có thể thay cho cao su bèn đem nó về nước Mỹ.

Song loại nhựa cây này không sản xuất ra các sản phẩm giống cao su, nhựa của vị tướng quân bị chất đầy trong kho, không bán được một chút nào. Một hôm, bố con một người bạn Mỹ của tướng quân Adams tới thăm ông, nhìn thấy trong miệng tướng quân không ngừng nhai một miếng nhựa cây nhỏ liền cảm thấy hiếu kỳ và cũng thử nhai theo.

Sau này, bố con Adams đã điều chế loại nhựa cây này thành dạng hồ dính, sau đó cho thêm hương liệu vào, làm thành từng viên tròn nhỏ rồi đem đi bán ở các hiệu thuốc. Rất nhiều người đã mua về nhai đồng thời gọi những viên tròn nhỏ này là kẹo cao su, đây là loại kẹo cao su đầu tiên.

Kẹo cao su ngày nay đã được phát triển lên hơn 100 loại, bạn có thể tùy ý lựa chọn khẩu vị mỗi loại.

Kim loại có trí nhớ là gì?

Lẽ nào lại có "kim loại có trí nhớ" thật sao? Có! Hơn nữa hoàn cảnh phát hiện ra nó rất kỳ diệu. Đầu những năm 60, khi viện nghiên cứu hải quân Mỹ nghiên cứu hợp kim Niken, Titan đã lấy ra từ trong kho các sợi hợp kim cong cong để có thể sử dụng được, họ đã tiến thành gia công cho nó thẳng ra và đặt nó bên cạnh lò lửa, đến khi cần dùng, họ mới phát hiện ra sợi hợp kim đã được uốn thẳng này trở lại ban đầu. Về sau, họ bèn làm một thí nghiệm và phát hiện thấy loại hợp kim này không giống với các kim loại thông thường, nó giống như một sinh vật sống và có "trí nhớ" rất tốt, nhưng trí nhớ này của nó khác với con người. Nó chỉ có thể nhớ hình dạng ban đầu của mình.

Nhưng nguyên liệu hợp kim không có sự sống này sao lại có trí nhớ? Thì ra bí mật để ghi nhớ của nó là trong phạm vi nhiệt độ nhất định, bên trong hợp kim có một dạng thay đổi kết cấu thuận nghịch đặc biệt. Khi chúng chịu lực tác dụng lớn từ bên ngoài vào, nguyên tử bên trong có thể tạm thời rời xa vị trí ban đầu của nó và bị đẩy tới vị trí gần đó. Lúc này, chúng ta có thể nhìn thấy hợp kim đã thay đổi hình dạng của mình. Nhưng sau khi tăng nhiệt độ cho hợp kim đã biến hình này, nguyên tử bên trong do đã có đủ năng lượng cần để vận động, đồng thời lại có tác dụng của lực kết hợp kết cấu lúc đầu nên có thể khôi phục lại hình dạng vốn của nó.

Căn cứ vào đó, các nước đã nghiên cứu ra mười mấy loại hợp kim "có trí nhớ" như vàng Catmi, Titan coban, Titan sắt, Zirecon rubidi...v.v, hợp kim có tính đại biểu nhất là Niken-Titan. Ngày nay , các loại hợp kim có trí nhớ đều được ứng dụng một cách khéo léo trong công nghiệp hiện đại, kỹ thuật hàng không và trong các vật dụng đời sống thường ngày. Ví dụ như dùng hợp kim để chế tạo ra đinh tán, đinh chốt, cắm vào lỗ rồi thêm chút nhiệt, chân cắn của nó sẽ tự động tách ra, giữ cho vật thể cố định vững chắc và nâng cao công hiệu. Vài năm trước kỹ thuật hàng không đã ứng dụng hợp kim vào dây anten đưa lên mặt trăng, trước tiên sau khi làm lạnh nó, người ta thêm ngoại lực vào rồi ép chúng cho bằng một quả cầu nhỏ, đưa vào phi thuyền vũ trụ. Lên tới mặt trăng chịu sự chiếu xạ rất mạnh của mặt trời sẽ khôi phục lại hình dạng chiếc anten lúc đầu. Bây giờ, ô tô được chế tạo từ hợp kim mỗi khi va chạm làm biến dạng, thậm chí mất đi hoàn toàn hình dáng ban đầu, chỉ cần dùng lửa hơ qua thì sẽ khôi phục lại trạng thái ban đầu. Loại kim loại có "trí nhớ" này có tác dụng rất lớn đối với chúng ta, phải vậy không?

Tại sao không nên tắt điện khi xem ti vi?

Rất nhiều bạn nhỏ khi xem ti vi thường thích phòng tối hơn một chút, ban ngày thì đóng rèm cửa lại, buổi tối thì tắt đèn giống như xem phim ở rạp chiếu phim vậy. Không sai, tắt điện xem ti vi sẽ nhìn rõ hơn so với lúc đèn sáng nhưng như vậy sẽ hại cho mắt.

Chúng ta đều biết rằng, mắt con người rất quý giá, nó không thể nhìn thấy đồ vật ở nơi quá sáng hoặc quá tối, nếu nhìn lâu như vậy sẽ có hại cho mắt. Chẳng hạn ở nơi mặt trời chiếu thẳng vào, tốt nhất chúng ta không nên đọc sách ở đó, và phải bật đèn khi học buổi tối.

Xem ti vi cũng vậy, màn hình của ti vi rất nhỏ, hình ảnh cũng không lớn lắm, thêm vào đó là các hình ảnh không ngừng chuyển động, ánh sáng hoặc mạnh hoặc yếu cũng liên tục thay đổi, chúng kích thích rất mạnh tới mắt chúng ta. Nếu chúng ta bật đèn điện, ánh sáng đèn sẽ làm giảm bớt cường độ ánh sáng trên màn hình và giảm những kích thích của những ánh sáng này đối với mắt chúng ta, từ đó giảm bớt mức độ gây hại tới thị lực.

Tại sao điện có thể giật chết người?

Từ khi điện được tìm ra và được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, chúng ra đã không thể thiếu nó. Nhưng bất chợt chúng ta phát hiện ra rằng có người sẽ bị điện giật, thậm chí còn bị chết do điện giật, điều này là vì sao?

Chúng ta biết rằng cơ thể người là một vật dẫn điện, sau khi bị điện giật nguồn điện sẽ đi qua cơ thể. Khi nguồn điện đi qua cơ thể, các cơ bắp người sẽ căng ra và tạo cảm giác "tê tê" giống như điện 1,5V trên quả pin, chúng ta chỉ có thể cảm thấy sự tồn tại của nó bằng đầu lưỡi, điện như vậy không nguy hiểm cho cơ thể. Thường khi điện áp vượt quá 36V sẽ làm tổn thương con người. Khi nguồn điện vượt quá mức này, não và tim là những nơi quan trọng nhất trên cơ thể bị thương tổn. Não bị tổn thương sẽ làm cho thần kinh hô hấp do nó quản lý bị mất đi chức năng làm việc, hô hấp của con người bị dừng lại, tim bị tổn thương, nguồn điện sẽ làm tim ngừng đập, mạch máu sẽ không chảy nữa. --> die

Có phải ruột bút chì làm bằng chì?

Các bạn nhỏ khi cầm bút chì viết chữ thường rất thích cắn đầu bút chì, khi người lớn nhìn thấy họ sẽ ngăn lại và nói rằng: đừng cắn nó, có độc đấy! Chúng ta cũng nghe nói rằng chì là vật chất có độc, vậy ruột bút chì có phải làm bằng chì không? Chúng ta hãy xem câu chuyện nhỏ dưới đây:

Năm 1564 tại Kan-bua-lan nước Anh, một cơn bão đã quật đổ một cây to, sau khi bão dừng, một người chăn cừu đi qua nơi này và nhìn thấy trong hố cây có một viên đá màu đen tuyền, ông dùng móng tay để gạch thì thấy mềm mềm, lại có thể vẽ ra đường thẳng và làm cho tay dính đen xì. Hình dáng của nó giống với chì, người chăn cừu liền đặt tên cho nó là "chì đen" rồi ông lấy về một ít, dùng nó làm ký hiệu trên người con cừu. Sau này có người cắt loại "chì đen" này thành viên dài, dính nhãn hiệu lên và lấy tên là đá in, bán cho các thương nhân để họ đánh dấu trên hàng hóa.

Năm 1970, sau chiến tranh giữa Anh - Pháp, người Pháp không mua được đá in, nhà hóa học Kant đã mài "chì đen" thành bột nhỏ rồi trộn thêm với đất sét, nặn thành các sợi dài màu đen. Sau khi được nung trong lò sẽ tạo thành ruột bút chì dùng để vẽ ký tự, viết chữ. Những ruột chì đen khi dùng sẽ làm bẩn ngón tay, lại dễ bị gãy. Năm 1812, một thợ mộc người Mỹ đã nghĩ ra một cách là khắc lên trên hai cành gỗ nhỏ các máng rỗng rồi đút chì đen vào, sau đó ép hai cành gỗ vào với nhau, đó là chiếc bút chì đầu tiên trên thế giới.

Vậy rốt cuộc "chì đen" dùng làm ruột bút chì có phải chì hay không? Trải qua các giám định, các nhà hóa học đẽ phát hiện ra rằng "chì đen" nhẹ hơn chì rất nhiều, gõ vào là gãy, đốt trên lửa sẽ giống như than. "Loại chì đen" này vốn không phải là chì mà là một dạng cácbon phi kim. Tên thật của nó là Graphit (than chì). Nhưng lúc đó, mọi người đã quen gọi nó là bút chì rồi mà cũng không cần thiết gọi là "bút graphit" nên tên gọi bút chì được sử dụng đến tận bây giờ.

Graphit khác với chì, nó không có độc cho nên các bạn nhỏ hay cắn đầu bút cũng không phải lo lắng là bị trúng độc. Nhưng cắn đầu bút là thói quen xấu vừa mất vệ sinh lại ảnh hưởng tới sự sắp xếp đều đặn của răng, chúng ta nên bỏ thói quen xấu này.

Inox có thể bị gỉ không?

Chúng ta đều biết rằng các kim loại như gang, thép rất dễ bị gỉ, các vết gỉ đồng màu xanh vừa ảnh hưởng tới mỹ quan của đồ dùng vừa rất mất vệ sinh, vì vậy mọi người thường thích sử dụng các đồ dùng bằng inox. Chẳng hạn như vỏ đồng hồ cơ, các loại máy móc dùng để phẫu thuật trong bệnh viện, các thiết bị sản xuất hóa học quan trọng và một số nồi niêu, bát đĩa, muôi thìa dùng trong gia đình...

Song inox không phải là hoàn toàn không gỉ, điều này có quan hệ mật thiết với các tính năng và các vật chất cấu thành lên nó.

Inox không phải là một kim loại nguyên chất do chất đơn nhất cấu thành, nó là một dạng hợp kim, thành phần của nó bao gồm sắt và cacbon, ngoài ra còn các nguyên tố khác như: Niken, Crom, Moolyp đen... Những nguyên tố này có thể hình thành một lớp màng mỏng trong không khí, lớp mạng này tuy rất mỏng nhưng lại có tác dụng bảo vệ rất hiệu quả, tránh cho inox khỏi bị gỉ ăn mòn.

Song nếu chúng ta sử dụng không đúng cách mà làm mất đi lớp màng bảo vệ bên ngoài thì inox sẽ bị ăn mòn và xuất hiện các vết gỉ.

Vì vậy, khi chúng ta sử dụng những đồ dùng bằng inox, nhất định phải chú ý tới tính khoa học và tính hợp lý của nó để giữ cho các dụng cụ ăn uống bằng inox luôn sáng bóng và không gỉ.

Cột thủy ngân trong cặp nhiệt độ tại sao không thể tự động hạ xuống được?

Ngày nay, trong rất nhiều gia đình đều có nhiệt kế đo thời tiết và đo nhiệt độ cơ thể, tự động tăng giảm cột chỉ thị màu đỏ của nó theo sự thay đổi của thời tiết, từ đó có thể nói cho mọi người biết tình hình nhiệt độ, thật là tiện lợi. Còn nhiệt kế đo nhiệt độ cơ thể, bạn đều phải vẩy mạnh vài cái nếu không cột thủy ngân của nó sẽ đứng im ở vị trí ban đầu, ảnh hưởng đến việc đo nhiệt độ cơ thể chúng ta một cách chính xác.

Đều là nhiệt kế, nhưng sao "tính cách" của chúng lại khác nhau như vậy? Trước tiên, chúng ta hãy cùng so sánh một chút cặp nhiệt độ và cặp nhiệt kế, bề ngoài của chúng rất khác nhau. Đường kính trong ống thủy tinh của cặp nhiệt độ to nhỏ như nhau, còn đường kính trong ống thủy tinh của cặp nhiệt kế lại khác nhau, chỗ nối giữa cột thủy ngân và ống thủy ngân rất nhỏ và còn có đường cong.

Khi dùng cặp nhiệt kế để đo nhiệt độ cơ thể, thủy ngân trong quả cầu thủy ngân gặp phải nóng sẽ nở ra, thủy ngân từ đường cong bé nhỏ này dâng lên trên và hiển thị nhiệt độ. Còn khi bỏ cặp nhiệt kế ra khỏi cơ thể, thủy ngân gặp lạnh co lại, bởi có một đoạn trên quả cầu thủy ngân rất nhỏ mà sức tụ bên trong thủy ngân cũng nhỏ theo, vì thế làm cho khúc trên bị cắt thành hai đoạn tại phần miệng rất nhỏ ở đường bên trong. Dưới áp lực của lực cản đường kính trong và lực tích tụ trong thủy ngân, đoạn dâng cao sẽ không thể tự động rơi xuống quả cầu thủy ngân mà chỉ đứng im ở vị trí đã lên cao, biểu thị mức nhiệt độ cơ thể vừa đo xong.

Tương tự, chúng ta dùng nhiệt kế đo thời tiết để đo nhiệt đọ cơ thể, khi chúng ta lấy nhiệt kế đo thời tiết ra khỏi cơ thể rồi đọc số hiển thị bên trên, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng chất lỏng màu đỏ bên trong không ngừng hạ xuống, khiện ta không biết được nhiệt độ cơ thể là bao nhiêu. Xem ra, nhiệt kế đo nhiệt độ cơ thể không thể tự động hạ xuống lại là một điều hay. Chỉ có điều là khi dùng chúng ta chớ quên vẩy là được.

Tại sao pin có thể tạo ta điện?

Pin khô mà chúng ta sử dụng hiện nay là một loại pin hóa học. Nó có thể làm cho dòng điện chạy qua liên tục trong mạch điện, ở chính giữa của pin khô có gắn một nắp đồng nhỏ, phía dưới nó gắn một chiếc gậy than, đây là cực dương của pin. Vỏ ngoài của pin là một ống tròn làm bằng kẽm nén, đó là cực âm của pin. Trong quả pin có chứa một chất lỏng dạng hồ gồm một lượng lớn nguyên tử Clo, nguyên tử Clo sẽ kéo nguyên tử kẽm trong lớp vỏ kẽm của pin tới dung dịch hóa hợp. Nguyên tử Clo mỗi lần kéo theo một nguyên tử kẽm đi thì trong lớp vỏ kẽm sẽ sinh ra hai điện tử tích điện âm, như vậy vỏ kẽm dần dần sẽ tích điện một lượng lớn điện tích âm và trở thành cực âm của pin. Đồng thời điện tử trên chiếc gậy than cũng bị lực hóa học kéo vào dung dịch, mỗi lần kéo theo một điện tử, trên gậy than tăng thêm một điện tích dương, trở thành cực dương của pin.

Như vậy pin đã có điện.

Sunday, August 3, 2014

Có dây cầu chì không cần thay không?

Hiện nay có một loại cầu chì có thể không cần phải thay.

Khi gặp phải dòng điện lớn đang chạy qua, nhiệt độ tăng cao, lúc này dây cầu chì sẽ lập tức trở thành vật cách điện, làm cho mạch điện bị ngắt và có tác dụng bảo hiểm, sau khi điện bị cắt nhiệt độ tự nhiên hạ xuống, dây cầu chì khôi phục lại trạng thái bình thường và tiếp tục dẫn điện.

Dây cầu chì có tác dụng gì?

Nhắc tới dây cầu chì chúng ta sẽ dễ dàng nghĩ đến tình huống dây cầu chì bị đứt, mọi người  vội vã đi tìm dây cầu chì khác để thay, xem ra nó gây ra không ít phiền phức cho con người, chúng ta không dùng dây cầu chì không được sao?

Dây cầu chì được tạo thành từ rất nhiều kim loại nóng chảy, đặc điểm lớn nhất của nó là dễ nóng chảy hơn bất kì một kim loại nào. Như vậy, khi đường điện được lắp cầu chị nếu không may dây đường điện bị hỏng, nguồn điện quá lớn, dây cầu chì sẽ nóng chảy trước tiên rồi cắt nguồn điện, dây điện và đồ điện sẽ không dẫn điện nữa, tất nhiên như vậy cũng sẽ tránh được những hỏng hóc và những nguy hiểm như bị cháy. Có dây cầu chì sẽ đảm bảo việc dùng điện được an toàn hơn.

Điều đáng chú ý là để tiện lợi có người đã dùng dây chì thậm chí còn dùng dây đồng, dây thép thay cho dây cầu chì bị nóng chảy, cách làm này vô cùng nguy hiểm, nó chẳng khác nào đặt quả bom hẹn giờ trong nhà, chẳng tác dụng bảo hiểm gì cả. Hy vọng, mọi người vì sự an toàn của mình hãy thay bằng dây cầu chì.

Đáy ấm nước tại sao có hình gợn sóng?

Bước vào bếp, chỉ cần chú ý một chút bạn sẽ phát hiện ra rằng nồi nấu cơm có đáy bằng, nồi canh có đáy hình cầu, còn đáy ấm nhôm đun nước trên bếp ga lại có đáy hình gợn sóng giống như lớp sóng lăn tăn trên mặt nước. Đáy ấm nước tại sao lại có dạng như vậy? Nó có tác dụng gì?

Điều này là vì đáy ấm hình gợn sóng có diện tích tiếp xúc với ngọn lửa lớn hơn rất nhiều so với các loại có đáy cùng loại. Diện tích tiếp xúc với ngọn lửa càng lớn, lượng nhiệt truyền tới càng nhiều, nước càng nhanh sôi hơn.

Mặt khác, đáy ấm hình gợn sóng còn có thể làm tăng tính đàn hồi của ấm nược, làm cho ấm nước bền chắc hơn.

Lúc này sẽ có người hỏi rằng đáy ấm nược nhà tôi sao lại bằng, vậy thì chẳng phải là nước sẽ lâu nóng sao? Phải làm thế nào đây? Thực ra bạn cũng không cần lo lắng quá, bạn nhìn xem trên ấm nước còn có những gì? Đúng vậy, âm nước nhà bạn đun bằng điện, mặt trong ấm nước có lò so điện uốn khúc cũng sẽ đun nước nhanh sôi như vậy.

SOS là tiến hiệu gì?

SOS là tín hiệu cầu cứu được Thế giới công nhận và sử dụng. Nhưng SOS lại là tín hiệu cầu cứu cho tàu thuyền khi gặp tai nạn đầu tiên.

Trước khi phát minh ra vô tuyến điện, các thủy thủ hàng hải thường dùng lửa, tiếng vang và cờ làm tín hiệu cầu cứu. Năm 1899, nhà phát minh ra vô tuyến điện Babaphu đang làm việc ở cảng Hotega thì nhận được bức điện báo gửi từ Bê-téc-bua, mệnh lệnh cho thuyền tới cứu nạn 5 ngư dân ở gần Lát-vi-a. Babaphu đã dùng vô tuyến điện truyền tới hòn đảo nơi con thuyền đang đậu ở đó để thuyền này đến cứu viện.

Chuyện này đã gây sự chú ý của một số quốc gia, họ đưa ra một số quy định tạm thời về tín hiệu hô cứu trong một số trường hợp khẩn cấp.

Sau này, hội nghị điện tín quốc tế được tổ chức tại London đã chính thức thông qua "SOS" làm tín hiệu quốc tế cầu cứu cho các tàu thuyền. "Ba chữ SOS" lấy ba chữ cái đầu tiếng Anh "Save our soul" (hãy cứu rỗi linh hồn chúng tôi). Điện mà Mores của nó rất đơn giản, gồm ba chấm, ba ngang, ba chấm, mọi người có thể dễ dàng dùng tay hoặc các tín hiệu khác để biểu thị, vì vậy sau này nó được sử dụng phổ biến trên thế giới.

Hiện tượng Elnino là gì?

Vài năm gần đây, khí hậu trên Trái Đất biến đổi thất thường, có vùng khí hậu thay đổi xấu đi làm cho cuộc sống nông nghiệp, xã hội bị phá hoại nghiêm trọng. Các chuyên gia khí tượng đã cảnh báo con người rằng đây là ảnh hưởng của hiện tượng "Elnino" gây ra. Vậy hiện tượng "Elnino" rốt cục là gì?

Ở phía Đông Nam Thái Bình Dương và bờ biển Tây châu Nam Mỹ chịu ảnh hưởng của luồng khí lạnh Pêru, nhiệt độ nước biển rất thấp, nhưng cũng có một luồng khí ấm rất nhỏ thỉnh thoảng ngẫu nhiên đi vào khu vực biển này, làm cho nước biển bỗng trở nên ấm hơn, từ đó tạo thành lượng lớn nước lạnh và khiến cho các loài cá bị chết. Hiện tượng này thường xuất hiện trước hoặc sau lễ Noel, người ở đó gọi là hiện tượng "Elnino", nghĩa là "thánh nhỏ" theo tiếng Tây Ban Nha.

Khi "Elnino" xuất hiện, khí hậu ở rất nhiều nơi trên toàn cầu sẽ thay đổi trạng thái, các vùng nóng bức này xảy ra nhiệt độ thấp, còn những vùng mưa lại khô ráo, quả Đất dường như bị mắc bệnh. Vài năm gần đây khí hậu Quả Đất khác thường, các nhân tố con người, ô nhiễm công nghiệp là một trong những nguyên nhân đó, còn kẻ có tội hàng đầu chính là "Elnino"

Ai là người chữa được bệnh chó dại?

Người đầu tiên chữa được bệnh chó dại là nhà khoa học người Pháp Basde. Năm 1885, ông nghiên cứu thành công vacxin phòng bệnh chó dại, đồng thời áp dụng biện pháp trị liệu miễn dịch lần đầu tiên chữa khỏi cho một bệnh nhân tên là Maiste.

Đường truyền nhiễm của bệnh chó dại là do một loại vi rút có tình lọc mà kính hiển vi cũng không nhìn thấy gây ra, tất cả các động vật máu nóng đều có thể nhiễm bệnh chó dại. Con người bị bệnh chó dại, lúc đầu rất bình thường, rồi bị sốt, cảm giác cơ bắp thắt chặt lại, các cơ bắp khống chế hô hấp cũng bị co giật, cuối cùng gây ra tử vong cho người bệnh. Vì vậy, bệnh chó dại là một căn bệnh rất đáng sợ đối với con người, cần phải tìm ra phương pháp hiệu quả để khống chế sự truyền nhiễm của bệnh chó dại.

Cống hiến kiệt xuât của Basde cho nhân loại là ông đã thành công trong việc phòng trị căn bệnh chó dại đáng sợ này. Trước tiên, ông tách vi rút trên cơ thể một đứa trẻ đã chết do bệnh chó dại ra rồi dùng động vật làm thí nghiệm thay thế, sau nhiều lần thí nghiệm và không ngừng cải tiến, cuối cùng ông đã nghiên cứu thành công vacxin phòng bệnh chó dại. Để khên ngợi ông, thủ tướng Pháp đã tự ban thưởng cho ông "Huân chương Đại thập tự"

Ai phát minh ra tàu thủy?

Sau khi đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước ra đời, có người đã muốn dụng nó làm động lực để khởi động tàu chạy.

Năm 1793, Fulton người Mỹ đã bắt đầu dốc hết sức nghiên cứu chế tạo ra tàu thủy, ông vẽ nhiều bản thảo các máy móc, bánh chèo và tàu, đồng thời nghiên cứu và tổng kết bài học kinh nghiệm của người đi trước, lại còn làm các thí nghiệm mô phỏng. Năm 1802, Fulton tới Anh, lúc đó có một người Anh đã sử dụng tàu hơi nước để chế tạo ra chiếc tàu thủy có động cơ, nhưng do bị chủ phản đối nên tàu bị gác lại  không sử dụng. Fulton biết được chuyện này, về nước không lâu ông liền chế tạo ra chiếc tàu thủy tương tự. Ngày 17 tháng 8 năn 1807, Fulton lái chiếc tàu thủy này, khi thử tàu từ NewYork đến Albanijian đã thành công và lần thử này đã đánh dấu chiếc tàu thủy đầu tiên mà nhân loại có được.

Ai là người đầu tiên để lại dấu chân nhân loại trên mặt trăng?

Ngày 21 tháng 7 năm 1969, nhà du hành vũ trụ người Mỹ Amstrong lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.

Ngày 16 tháng 7 năm 1969, Amstrong nhận nhiệm vụ làm chỉ huy trưởng con tàu "Apolo số 11" bay vào mặt trăng, cùng với các phi hành gia Collins bắt đầu chuyến bay vào mặt trăng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Ba hôm sau ngày phóng tên lửa, Amstrong cùng Collins vào khoang lên mặt trăng, mặt khác rời khoang chỉ huy, bắt đầu bay vòng quanh mặt trăng. Còn Collins vẫn ở lại khoang chỉ huy, tiếp tục bay vòng quang mặt trăng, đợi hai người đồng hành lên mặt trăng thuận lợi quay lại, tất cả cùng nhau trở về Trái Đất.

20 giờ 17 phút ngày 20 tháng 7, khoang lên mặt trăng đã hạ cánh mềm thuận lợi ở góc phía Tây Nam của biển tĩnh trên mặt trăng. 2 giờ 56 phút ngày 21 tháng 7, Amstrong khoác áo phi hành ngoài khoang, bước ra khỏi khoang lên mặt trăng và là người đầu tiên để lại dấu chân nhân loại trên mặt trăng. 19 phút sau, Collins cũng bước lên mặt trăng, họ dừng lại trên đó khoảng 21 tiếng, chụp những cảnh tượng thật nhất, sau khi thu thập một số vật phẩm như than đá và đất cát xong, họ cất cánh từ mặt trăng rồi cùng Collins quay lại Trái Đất.

Saturday, August 2, 2014

Nhà thám hiểm vũ trụ đầu tiên trên thế giới là ai?

Nhà thám hiểm vũ trụ đầu tiên trên thế giới là nhà du hành vũ trụ người Liên Xô cũ Gagarin. Lần thành công bay vào vũ trụ đầu tiên của Gagarin đã thực hiện được nguyện vọng bay vào vũ trụ của nhân loại.

Sáng sớm ngày 21 -4 -1961, tại trung tâm du hành vũ trụ Baikanuli miền trung Liên Xô, với tâm trạng rất phấn khích, Gagarin leo lên phi thuyền "Đông Phương số 1". 9 giờ 7 phút sáng phi thuyền cất cánh.

Khi tàu "Đông Phương số 1" cách mặt đất ở điểm cao nhất 327 km, Gagarin đã thích ứng được với môi trường không trọng lượng. Theo sự sắp xếp có trình tự, sau khi ăn cơm xong, ông bắt đầu tỉ mỉ quan sát máy đo trong khoang, rồi ghi chép lại cẩn thận, chụp ảnh trong và ngoài khoang tàu. Một lúc sau, ông nhận được mệnh lệnh từ mặt đất yêu cầu quay tàu lại, ông liền cho khởi động tên lửa hãm phanh được lắp ở khoang máy để giảm tốc độ của tàu. Tiếp theo, ông khởi động một tên lửa nhỏ khác để phi thuyền rời quỹ đạo bay về trái đất. Lúc này, toa khời động và khoang máy tách rời nhau, đồng thời hạ thấp với tốc độ cao. Khi khoang khởi động hạ xuống cách mặt đất 7700m, Gagarin và ghế ngồi của ông cũng bị phóng ra ngoài, 3 chiếc dù màu lập tức mở ta. Khi hạ xuống cự ly cách mặt đất 4400m, Gagarin đã bay ra khỏi ghế ngồi, ông từ từ hạ xuống mặt đất.

Lần thực hiện cuộc thám hiểm vào vũ trụ đầu tiên của Gagarin đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại trong việc chinh phục mặt trăng, chinh phục vũ trụ. Nhưng bất hạnh thay vào ngày 27 -3 -1968, Gagarin đã tử vong trong một lần thực hiện nhiệm vụ phi hành, lúc đó ông mới 34 tuổi. Tên tuổi của ông sẽ được ghi chép mãi mãi trong sử sách ngành hàng không của nhân loại.

Friday, August 1, 2014

Ai phát minh ra thuốc nổ?

Chúng ta đều biết rằng: thuốc nổ, tạo ra giấy, kỹ thuật in ấn, kim chỉ nam được gọi là "tứ đại phát minh" của Trung Quốc thời cổ đại, chúng có tác dụng rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển lịch sử thế giới. Thuốc nổ sớm nhất chủ yếu do Kali Nitrat, than gỗ và lưu huỳnh trộn với nhau tạo thành và được sử dụng đến tận cuối thế kỷ 19. Nhưng muốn nói tới việc phát hiện ra thuốc nổ với ý nghĩa thực sự thì phải nói tới sự kiện thời cận đại.

Người nghiên cứu và chế tạo ra thuốc nổ có ý nghĩa thời đại phải kể tới nhà hóa học người Thủy Điển - Nobel. Trong quá trình nghiên cứu, Nobel đã ngẫu nhiên phát hiện ra Nitro Glyxerin dùng làm nguyên liệu thì có thể làm tăng uy lực của thuốc nổ. Sau nhiều năm nỗ lực phấn đấu trải qua nhiều thất bại, cuối cùng ông đã hoàn thành hàng loạt các phát minh như thuốc nổ an toàn trộn từ Nitro Glyxerin với đá tổ ong, được ứng dụng rộng rãi trong khai thác khoáng sản và làm đường nhờ vậy mà Nobel mới nổi tiếng khắp nơi, được gọi là "ông vua thuốc nổ".

Ai phát minh ra la bàn?

La bàn còn được gọi là kim chỉ nam, là một trong bốn phát minh lớn của người Trung Hoa cổ đại. Về cơ bản, nó có ba bộ phận: một kim từ, một trục đỡ, một giá đỡ. Nó dựa vào lực tác dụng của từ trường trái đất đối với kim từ làm cho kim từ luôn chỉ một phương hướng nhất định, cho dù người ta có xoay chuyển nó thế nào. Nói đến người phát minh ra la bàn thì chưa ai giám khẳng định. Theo tài liệu lịch sử, người Trung Hoa đã phát minh và sử dụng la bàn từ cách đây mấy ngàn năm rồi, sau đó các thương nhân người Ả Rập đã học được cách sử dụng la bàn từ người Trung Hoa rồi họ truyền sang Châu Âu. Đến thế kỷ 12, la bàn đã được sử dụng rộng rãi ở châu Âu.

Việc lưu truyền và sử dụng la bàn đã thúc đẩy ngành hàng hải phát triển, dựa vào la bàn các nhà hàng hài phương Tây đã phát hiện ra châu lục mới, nó giúp cho con người bắt đầu chinh phục đại dương, khai thác nguồn hải sản.

Ai đã phát minh ra xe hơi?

Trải qua nhiều năm tìm tòi, người ta đã nghiên cứu thiết kế ra chiếc xe hơi. Đây là thành quả của rất nhiều người mà không phải một cá nhân nào đó phát minh ra nó trong ngày một ngày hai.

Ở thời kỳ vua Lui thứ 14 (Pháp), một đại úy pháo binh đã nghiên cứu chế tạo ra một chiếc xe ba bánh được làm từ gỗ, mang động cơ hơi nước, qua hai năm nỗ lực, chiếc xe này có thể chở được bốn người với tốc độ 9,5 km/h. Nó trở thành chiếc "xe tự động" đầu tiên trong lịch sử.

Năm 1826, tại nước Anh, ông Brown đã nghiên cứu chế tạo ra chiếc xe hơi có động cơ đốt trong đầu tiên trên thế giới, nó có hai xi lanh. Nó không chỉ đi được trên nơi bằng phẳng mà còn có thể lên dốc.

Năm 1886, ông Ben người Đức đã chế tạo ra một chiếc xe hơi rất thực dụng do nó có động cơ chạy bằng xăng nên người ra gọi nó là "xe hơi". Hiện nay tại bảo tàng khoa học kỹ thuật Munich - Đức vẫn bảo tồn chiếc xe này, trên xe ghi rõ "Đây mới là chiếc xe đầu tiên".

Ai đã phát minh ra chiếc máy bay đầu tiên?

Ngay từ thời xa xưa, loài người đã mơ ước được bay lượn tự do trên không trung như loài chim, tuy đã có vô số lần thử nhưng đều thất bại, người ta vẫn không từ bỏ mơ ước này. Đến thời kỳ cận đại, họ mang mơ ước của mình trông cậy vào các thiết bị bay, cuối cùng vào những năm đầu thế kỷ 20, anh em nhà Wilbur Later người Mỹ đã phát minh ra một thiết bị bay, ước mơ được bay giữa trời xanh của loài người đã trở thành hiện thực.

Later anh (1867 - 1912) và Later em (1871 - 1948) sinh trưởng trong một gia đình linh mục, tuy họ không học đại học nhưng trong nhiều năm họ đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm về các thiết bị bay về chế tạo xe đạp, đồng thời họ lại có đôi tay khéo léo. Năm 1898, họ tìm đọc rất nhiều các sách báo liên quan đến cơ chế bay và phân tích các nguyên nhân thất bại của người đi trước, trải qua nhiều lần thử nghiệm họ đã chế tạo ra một chiếc tàu lượn.

Ngày 17 tháng 12 năm 1903, anh em nhà Later đã lái chiếc máy bay của mình được 260m trong khoảng thời gian 59 giây. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử cho ngành hàng không - loài người đã có được chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới có thể điều khiển được.

Không lâu sau, anh em nhà Later đã nghiên cứu chế tạo ra chiếc máy bay có thể bay được hơn nửa giờ. Năm 1906, họ được chính phủ Mỹ thừa nhận và cấp bản quyền. Năm 1908, họ lại thành lập công ty chế tạo máy bay của mình và trở thành ông tổ ngành công nghiệp chế tạo máy bay và hàng không thế giới.

Ai đã phát hiện ra tia X quang?

X quang còn được gọi là tia Rơn-ghen do nhà vật lý người Đức Rơn-ghen (1845 - 1923) ngẫu nhiên phát hiện ra vào ngày 8/ 11/ 1895. Do loại tia này có sức xuyên thấu mạnh và mang vẻ bí ẩn nên ông đã đặt tên cho nó là "X quang" nghĩa là "Tia chưa biết". Trong quá trình nghiên cứu tia âm cực ông đã bất ngờ phát hiện rằng một loại tia sáng trong bóng âm cực có thể xuyên qua tấm bìa đen nằm ngoài bóng âm cực và làm cho màn huỳnh quang cách nó 1m phát ra ánh sáng, ông đã nhạy bén nắm bắt được điểm này và tiếp tục nghiên cứu. Qua 6 tuần nghiên cứu và thực nghiệm, ông đã chứng mình rằng đây là một loại tia sáng có thể xuyên qua nhiều loại vật chất như thủy tinh, cao su cứng, gỗ, nhôm, ... và ông đã dùng loại ánh sáng này để chụp được bức ảnh của xương bàn tay. Điều này cho thấy đây là loại "tia có tính xuyên thấu" đầu tiên mà nhân loại phát hiện ra.

Rơn-ghen là một nhà khoa học chính trực, vô tư, ông biết rõ rằng phát minh của mình có ý nghĩa rất lớn cho khoa học và y học, khi công ty điện khí Beclin đề nghị mua đứt bản quyền phát minh của mình, ông đã kiên quyết từ chối và mang phát minh của mình ra công bố cho công chúng.

Việc phát minh ra tia X quang đã làm tiền đề cho một loạt các phát minh quan trọng khác, nó mang một ý nghĩa rất lớn cho sự phát triển của khoa học - y học hiện đại. Để tưởng nhớ tới ông, người ta đã gọi tia "X quang" là "tia Rơn-ghen".

Thursday, July 31, 2014

Ai phát minh ra máy vi tính đầu tiên trên thế giới?

Vớ sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật hiện đại, máy vi tính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống của nhân loại, từ cơ quan công sở đến các gia đình, từ người lớn đến trẻ em, thanh thiếu niên. Trên xã hội, ngày càng có nhiều bạn trẻ có kỹ năng sử dụng máy tính và am hiểu về chúng. Tuy nhiên chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới được sinh ra ở đâu? Bạn có biết ai phát mình ra nó không?

Chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới thực sự có thể thao tác được sinh ra tại đại học Havert vào năm 1944. Người đã chế tạo ra chiếc máy này là giáo sư Anbe thuộc ĐH Havert, và một nhóm ký sư của công ty máy quốc tề. Chiếc máy này được gọi là "Máy vi tính Havert số 1", nó có khả năng tính hai phép cộng với 23 chữ số trong 3/10 giây, làm phép nhân trong 4 giây. Nhưng bộ phận chính của chiếc máy này là những linh kiện cơ, không phải linh kiện điện tử. Cho đến năm 1946, chiếc máy vi tính điện tử thế hệ thứ nhất mới được ra đời. Từ đó đến nay nó đã phát triển đến thế hệ thứ năm, (thế hệ bóng điện tử, bóng bán dẫn, mạch IC,...).

Tại sao tàu có thể nổi trên mặt nước?

Chúng ta đều biết rằng bất luận chất lỏng nào thì đều có một sức nâng nhất định, nước cũng vậy. Khi thẻ một vật xuống nước, nếu trọng lực của vật lớn hơn sức nâng của nước thì nó sẽ bị chìm trong nước, nếu trọng lực của vật ngang bằng với lực nâng thì nó sẽ bị ngập trong nước, tức không nổi lên trên mặt nước cũng không chìm xuống mặt nước, còn nếu trọng lực của vật nhỏ hơn lực nâng thì nó sẽ nổi lên mặt nước.

Sở dĩ tàu có thể nổi trên mặt nước là bởi nó nhìn thì có vẻ nặng nhưng trọng lượng thực tể của nó lại không nặng như vẻ bề ngoài, thân tàu đều rỗng. Hơn nữa mật độ nước biển khá lớn, lực nâng cũng lớn hơn trọng lượng của thuyền, cho nên mới có thể khiến thuyền nổi trên mặt nước. Tuabin quay kéo theo chân vịt chuyển động trong nước sinh ra lực đẩy, đẩy thuyền tiến về phía trước.

Ngoài ra, trên thuyền còn có rất nhiều lối đi và các phòng, trong không gian này chứa đầy không khí. Một khi tàu xảy ra sự cố ví như khoang thuyền bị ngập nước thì thân tàu sẽ bị chìm xuống nước do trọng lượng tăng lên quá nhiều. Điều này cũng giống như cành cây khô trôi trên mặt nước, khi nước thấm vào qua những lỗ rò nhỏ xung quanh cành cây nó cũng từ từ chìm xuống.

Tại sao phải lắp đặt đường ống dẫn dầu dưới biển?

Sở dĩ phải lắp đặt đường ống dẫn dầu dưới đáy biển chính để vận chuyển dầu từ một nơi này tới một nơi khác, chỉ có điều đường ống được lắp đặt dưới đáy biển. Bởi vì những nước không sản suất dầu mỏ vẫn phải mua dầu mỏ từ những nước sản xuất dầu. Nếu như cự li vận chuyển không quá xa thì có thể lợi dụng hệ thống đường ống dưới đáy biển để vận chuyển, trực tiếp đưa dầu tới nước thiếu dầu. Nhưng nếu khoảng cách giữa hai nước quá xa thì bắt buộc phải dùng các tàu chở dầu loại lớn để chở. Có nước thậm chó còn đem dầu dự trữ sãn trong những dụng cụ trữ dầu lớn dưới đáy biển, đợi tàu chở dầu đi qua thì lấy ra chở đi.

Những ống dẫn dầu lớn dưới đáy biển đều vô cùng vững chắc, lượng dầu trữ ở bên trong cũng không nhiều lắm, kho cần thiết có thể lấy ra bất cứ lúc nào, đồng thời có thể sử dụng xà lan đáy bằng để vận chuyển. Có điều ống dẫn dàu phải được chôn dưới đáy biển nhằm tránh bị lưới đành cá câu phải gây hư hại.

Wednesday, July 30, 2014

Tàu ngầm có thể ở dưới nước bao lâu?

Tùy theo quy mô, công dụng và thiết bị của tàu ngầm khác nhau mà thời gian ở dưới nước của chúng đương nhiên cũng khác nhau.

Có một số tàu ngầm thăm dò loại nhỏ do thể tích quá bé, nhân viên trên tàu không thể đứng thẳng lên được, bởi vậy đến ngay cả việc tự do đi lại cũng rất bất tiện, cho nên tàu ngầm này không thể ở lâu dưới nước, cao nhất chỉ có thể ở lại 10 tiếng đồng hồ. Tuy vậy, nhân viên trên tàu vẫn dự trữ trong tàu lượng không khí đủ dùng cho vài ngày, để sử dụng đề phòng khi phát sinh trục trặc khiến tàu không thể nổi lên mặt nước được.

Trái lại, tàu ngầm loại lớn có thể ở dưới nước từ hai tháng đến ba tháng, thậm chí có thể đi dưới nước vòng quanh thế giới trong vài tuần mà giữa đường cũng không phải nổi lên mặt nước. Như vật, trên tàu cần chuẩn bị đầy đủ lương thực, đồng thời thiết bị lọc khí, thiết bị lọc nước cũng phải có khả năng cung cấp đầy đủ dưỡng khí và nước ngọt.

Tàu ngầm hoạt động như thế nào?

Tàu ngầm là tàu có thể lặn xuống nước. bên trong tàu ngầm còn có rất nhiều khoang chứa nước lớn, khi trong khoang chứa đầy không khí tàu ngầm liền nổi lên giống như cái phao, khi tàu nhầm muốn lặn xuống nước thì lại đổ nước biển vào trong các khoang chứa, như thế tàu ngầm sẽ chìm xuống lòng nước, còn nếu muốn từ dưới nước nổi lên trên mặt nước thì chỉ cần dùng khí nén cao áp bơm nước ra ngoài là đã có thể nổi lên rồi. Tàu ngầm được đóng kín để đề phòng lúc ở dưới nước bị nước biển tràn vào.

Còn có một loại tàu ngầm thăm dò khác phục vụ cho nghiên cứu, bề ngoài hơi giống hình cái đĩa, phương thức chìm nổi của loại tàu này không giống những tàu ngầm thông thường. Nó thường neo lại ở khu vực nước có mục tiêu nghiên cứu, nổi chìm nhờ vào một số quả cầu kim loại, khi mắc những quả cầu kim loại vào sẽ khiến tàu trở nên quá nặng và chìm xuống, đến khi việc thăm dò đã hoàn tất, cần nổi lên mặt nước, nhân viên điều khiển chỉ phải vứt bỏ những quả cầu kim lại đó đi là đã có thể nổi lên.

Kênh đào là gì?

Kênh đào là một con sông được đào bởi sức người tại một nơi vốn không có dòng chảy, có thể để tàu thuyền qua lại. Độ sâu của kênh đào phải đủ để khiến cho tàu thuyền xuôi ngược dễ dàng không trở ngại. Khi đào kênh thường gặp phải những địa hình cao thấp không bằng phẳng, thế là dòng chảy của kênh đào cũng phải theo đó mà lên cao hay xuống thấp. Bởi vậy kênh đào cũng tùy theo độ cao thấp của địa hình mà phân thành nhiều đoạn, tại giữa mỗi hai đoạn kênh đều có xây dựng một đập chắn thuyền, đập chắn thuyền phân tách dòng sông thành những bậc thềm cao thấp khác nhau. Trước khi tàu thuyền đi vào những đoạn kênh khác nhau ấy phải đóng đập chắn ngay sau khi tàu thuyền vào kênh đào, liền đó đổ thêm nước hoặc rút bớt nước trong lòng kênh khiến mức nước tăng lên hay giảm xuống bằng với đoạn kênh tiếp theo, sau đấy lại mở đập chắn đoạn kênh tiếp theo để cho tàu thuyền tiếp tục tiến lên phái trước. Đây chính là tác dụng của đập chắn thuyền, một thiết kế quan trọng của kênh đào.

Kênh đào thường nối liền hai cảng quan trọng hoặc nối liền các khu vực trong thành phố. Kênh đào lớn còn có thể nối liền hai đại dương với nhau, ví dụ như kênh đào Xuyê nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hà, kênh đào Panama nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.

Động cơ hơi nước vận hành như thế nào?

Động cơ hơi nước sở dĩ có thể vận hành được là do dựa vào sức mạnh của hơi nước làm máy hoạt động. Chúng ta lúc thường ngày đều đã từng đun nước sôi, khi nước trong ấm sôi bồng lên, chúng ta liền phát hiện thấy có hơi nước bay ra. Sức mạnh của những hơi nước này là rất lớn, có thể đẩy bật nắp ấm. Nếu như thay đổi một chút, dùng nồi thật to để đun nước, thì sức mạnh của hơi nước sẽ càng lớn. Khi nước bắt đầu bốc hơi, nếu chúng ta dẫn nó vào trong một lỗ nhỏ, ví dụ như một đường ống, rồi lại để nó bốc hơi lên thì xung lực của nó sẽ càng mạnh mẽ, đủ để làm cho máy móc vận hành.

Động cơ hơi nước chính là lợi dụng nguyên lí này, cho đến ngày nay, đầu máy hơi nước và máy điện báo vẫn được vận hành bằng hơi nước.

Vì sao tàu hỏa cứ nhất định phải chạy trên đường ray?

Một đoàn tàu hỏa có rất nhiều toa xe, chở theo rất nhiều hành khách và hàng hóa nặng, giống như con rồng lớn chạy như bay trên đường ray. Đường ray có hai tác dụng: Một là nâng đỡ trọng lượng của đoàn tàu, phân tán lực xuống nền đất thông qua những thanh tà vẹt và đá răm trên đường ray, hai là định hướng dẫn đường cho đoàn tàu tiến lên phía trước.

Nếu không để tàu hỏa chạy trên đường ray, cứ cho nó chạy trên đường cái như những xe cộ khác, mặt đường sẽ bị đè nát bởi không chịu được áp lực cực lớn của bánh xe tàu hỏa. Ngoài ra, do tốc độ của tàu hỏa quá nhanh đồng thời cũng khó mà điều chỉnh được phương hướng để tàu tiến lên phía trước, cho nên tàu hỏa nhất định phải chạy trên đường ray.

Tuesday, July 29, 2014

Tại sao phải xây dựng cầu vượt?

Cầu vượt được xây dựng chủ yếu dùng để giải quyết vấn đề tắc nghẽn giao thông. Thông thường cầu vượt được xây dựng ở nơi có đường giao cắt, dòng xe ở các hướng khác nhau có thể vượt qua nhau ở các tầng đường có độ cao khác nhau, không gây nhiễu cho nhau, lại càng không thể phát sinh tai nạn đâm thẳng vào nhau.

Nếu dùng đèn tín hiệu giao thông điều khiển ở các nút giao thông thì phải đợi sau khi xe ở một hướng đi qua thì mới thông xe cho tuyến khác. Như vậ thì lượng xe lưu thông rất ít, do vậy việc ách tắc giao thông là chuyện đương nhiên. Cầu vượt là phương pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề này. Cầu vượt thông thường gồm bốn phần cấu tạo thành: Cầu vượt tuyến, đường vòng, đường dẫn cầu vượt tuyến và đường dốc dưới cầu. Cầu vượt tuyến là phần kết cấu chủ yếu, một đường vượt ở trên cầu, một con đường khác gặp nhau ở phía dưới cầu. Đường vòng là con đường nối giữa hai phần đường gặp nhau ở trên và dưới, chuyên dùng để cho các xe quay đầu trái phải vào con đường gặp nhau. Cầu vượt tuyến rất cao, đường dẫn cầu vượt tuyến là con đường nối con đường cũ và đầu cầu. Đường dốc dưới cầu là con đường nối đường xuống cầu và mặt đường cũ.

Kiểu dáng của cầu tuyến rất đa dạng, có hình quả trám, hình cỏ đinh lăng, hình tròn, hình định hướng và hình bán định hướng. Sử dụng kiểu dáng nào phải căn cứ vào địa hình và tình hình cụ thể. Cầu vượt tuyến đem lại cho con người rất nhiều tiện lợi.

Đường ngựa vằn có từ đâu?

"Đường ngựa vằn" chính là vệt trắng nhìn rất rõ vẽ ngang mặt đường dành cho người đi bộ, nhìn giống như những sọc vằn trắng đen trên thân ngựa vằn, do vậy nó được gọi là "Đường ngựa vằn" . Ý nghĩa của nó là nhắc nhở mọi người: "Xin hãy đi vào đường này", và cũng để cảnh cáo các lái xe chạy nhanh: "Xin hãy giảm tốc độ, chạy chậm, nhường đường cho người đi bộ".

"Đường ngựa vằn" đã có từ rất lâu rồi. Theo những ghi chép của các sách cổ thì vào thời La Mã cổ đại, người, ngựa và xe từng đi chung với nhau, nên chuyện xảy ra tai nạn là chuyện thường xuyên. Thế là nhân viên quản lý giao thông liền nghĩ ra một cách là làm cao đường cho người đi bộ để phân cách giữa người và xe, sau đó ở những chỗ gần đầu đường lại lát những viên đá lồi lên mặt đường để làm dấu hiệu chỉ ra rằng đây là đường cho người đi bộ qua đường. Người đi bộ có thể đi trên những viên đá để sang đường. Đến những năm 50 của thế kỷ 20, Luân Đôn cũng theo phương pháp của thời La Mã cổ đại, thí nghiệm nhiều lần vẽ những đường ngựa vằn. Đồng thời ở những đầu đường đông đúc lại vẽ hai đường ngựa vằn, có đèn tín hiệu: Đỏ dừng, xanh đi dành cho người đi bộ. Sau đó, phương pháp này được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng.

Đường tàu điện ngầm được xây dựng sớm nhất ở đâu?

Ngày 10/1/1863, ở Luân Đôn nước Anh đã xây dựng tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới, tổng cộng dài thành 88,5 km, gồm 61 nhà ga, là tuyến đường tàu điện ngầm dài nhất trên thế giới.

Trong thực tế, người đề xuất ra ý kiến xây dựng tàu điện ngầm đầu tiên không phải là chuyên gia trong ngành đường sắt mà là một luật sư. Ông là Charles Pearson, một người Anh nối tiếng có tài biện hộ. Trong thời kỳ mà ông sống xe cộ ở London rất nhiều, giao thông rất đông đúc, thường xảy ra tai nạn. Ông dự cảm rằng tình trạng này sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thành phố phát triển. Rất may mắn là ông lại chú ý đến đặc điểm của đường sắt là có tốc độ cao, khối lượng vận chuyển lớn. Thế là ông liền đưa ra suy nghĩ của mình là xây dựng đường sắt ở dưới đường phố của thành phố với nhà cầm quyền London, sau đó luận chứng đã được Chính phủ Anh chấp nhận.

Tại sao trên đường phải rải nhựa đường?

Nhựa đường là tên gọi khác của hắc ín, thuộc loại vật liệu ngưng tụ kết dính. Đặc điểm nổi bật nhất của nó chính là độ dính, tính chống nước và tính chống chảy. Những con đường được phủ nhựa đường ngay ngắn, phẳng phiu, tiên cho người và xe qua lại.

Hình thái con đường nguên thủy nhất chính là đường bằng đất bùn. Đường đất bùn là do con người đi lại nhiều giẫm đi giẫm lại thành đường,  giống như những con đường hẹp ngoằn ngoèo hiện nay ở nông thôn, chẳng những gồ ghề không bằng phẳng, mà còn bùi đầy trời, mưa xong thì bùn đất bắn lên đỉnh đầu. Con đường đất bùn không những đi lại khó khăn, mà còn tạo nên những hố bùn nếu xe cộ sa xuống khó có thể lên được,  gây nên rất nhiều điều bất tiện.

Để thay đổi tình trạng lạc hậu này, khắc phục việc đi lại khó khăn, thế là con người liên nghĩ ra mọi cách để làm mặt đường tốt hơn, Sau khi làm đường đất, người ta dùng những viên đá hoặc đá tảng lát lên mặt đường.

Qua nhiều lần nghiên cứu liên tục, cuối cùng con người đã tìm ra vật liệu lý tưởng để phủ lên mặt đường - Nhựa đường (Hắc ín)

Thế nào là đường cao tốc?

Đường cao tốc khác với đường bình thường, hoàn toàn ngược lại với đường bình thường bị hạn chế tốc độ khi lái xe. Thông thường, tốc độ lái xe trên đường bình thường bị hạn chế ở mức 40 - 60 km/h, còn đường cao tốc yêu cầu tốc độ ô tô ít nhất phải là 100 - 120 km/h. Do vậy đi trên đường cao tốc có thể tiết kiệm được một nửa thời gian.

Để đảm bảo cho xe đi với tốc độ cao, đường cao tốc được thiết kế rất kiên cố, bền để có thể tránh được những nguy hiểm do quá phụ tải, độ dốc của mặt đường rất nhỏ, rất phẳng, lại còn phải trống trơn. Ngoài ra, đường cao tốc đều có đảo an toàn ngăn cách, trồng cây tưới nước, hoặc thiết kế lan can, một mặt để lái xe ở các hướng khác nhau không đâm vào nhau, mặt khác để tránh đèn pha của xe đối diện làm hoa mắt nhau, thông thường có 4 -8 làn xe, mỗi bên một nửa. Để không cắt các đường bình thường, nền đường của đường cao tốc thường đặt cao ở trên, xa các thành phố để tránh tạo ra tạp âm gây nhiễu cho dân cư sống ở gần 2 bên đường. Đường cao tốc còn có những đường ra vào riêng, quy định chỉ có các xe mới được vào đường cao tốc. Mặt ngoài cùng của đường cao tốc làm bằng lưới kim loại để khép kín toàn đường.

Lượng vận chuyển của đường cao tốc tương đương lượng vận chuyển của năm con đường bình thường. Đường cao tốc còn có thể giảm thiểu biên độ lớn lượng xe vận chuyển, là con đường tiến đến hiện đại.